hochiminhbao.com
               Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai-Lời vua Lý Thái Tông
       Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc-Lời tướng Trần Hưng Đạo
        Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc thì phải đàn hặc ngay-lời vua Lê Lợi
                                  Cán bộ là công bộc của dân-Lời Hồ Chí Minh
   Việc gì lợi cho dân, thì phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh-Lời Hồ Chí Minh
                          Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam-Lời Hồ Chí Minh
                 Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân-Lời Nguyễn Trãi

Vụ án oan của ông Việt kiều Nguyễn An Trung

Khoảng đầu năm 1994, báo Đại Đoàn Kết nhận được một tập hồ sơ dày cộp của Công ty Sài Gòn Ôtô, khiếu nại về sự việc oan trái của ông Nguyễn An Trung, giám đốc Công ty Sài Gòn ôtô, Việt kiều Nhật.

Tổng biên tập Nguyễn Ngọc Thạch giao cho tôi nghiên cứu bộ hồ sơ này. Bộ hồ sơ khá dày, cỡ đến hơn một đót ngón tay. Tôi phải dành nhiều ngày mới đọc hết bộ hồ sơ. Sự việc của ông Nguyễn An Trung có thể được tóm tắt như sau.

Ông Nguyễn An Trung là người An Giang, sang Nhật học về kỹ thuật theo sự cho phép của chính quyền Sài Gòn cũ từ đầu những năm 1960. Ông Nguyễn An Trung đã tốt nghiệp tiến sĩ kỹ thuật ở Nhật . Ở Nhật, ông Nguyễn An Trung tham gia phong trào yêu nước, phản chiến. Vì các hoạt động này, ông Nguyễn An Trung đã bị chính quyền Sài Gòn cũ xử án vắng mặt, kết án ông 6 năm tù vì tội chống chính quyền.

Năm 1975, ngày miền Nam được giải phóng, ông Nguyễn An Trung là một trong những Việt kiều đầu tiên được chính quyền cách mạng mời về dự lễ ăn mừng chiến thắng 30 tháng 4. Mặc dù đã ở Nhật15 năm, ông Nguyễn An Trung vẫn giữ quốc tịch Việt Nam.

Sau năm 1975, ông Nguyễn An Trung về nước liên tục, tìm cách giúp quê hương. Ông muốn đem các kiến thức đã học được ở Nhật về nước tham gia xây dựng đất nước.

Năm 1988, Việt Nam có Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài. Ông Nguyễn An Trung nhanh chóng thành lập Công ty Sài gòn ôtô, tuyển dụng khoảng 400 công nhân.

Công ty của ông nhập khẩu các loại xe ô tô cũ secondhand như xe buýt, xe tải, xe chở rác, xe hút bùn, xe cần cẩu, xe công trình, giá rẻ, tay lái ngịch, đưa về Việt Nam, chuyển đổi thành xe tay lái thuận, bán phục vụ công cuộc xây dựng đất nước.

Ông Nguyễn An Trung nghĩ là các loại xe cũ ở Nhật rất rẻ, và nhất là các xe công trình, xe phục vụ lợi ích công cộng. Mua loại xe này về, chuyển đổi tay lái, bán rẻ ở Việt Nam, rất phù hợp với nền kinh tế còn nghèo của Việt Nam. Và chất lượng xe cũ của Nhật vẫn còn rất tốt. Quan điểm của ông Trung là không nhập khẩu xe 4 chỗ ngồi, xe du lịch, chỉ nhập xe công trình, vì hiện nay Việt Nam cần loại xe này hơn.

Công việc của Công ty Sài Gòn ôtô đang rất chạy. Ông Nguyễn An Trung đã biếu thành phố Hồ Chí Minh một số xe buýt chuyển đổi tay lái. Ông Trung có ý định nếu công việc thuận lợi, ông sẽ có thể trang bị đủ xe buýt cho thành phố Hồ Chí Minh.

Nhưng tai họa đã ập đến ông vào đầu năm 1994.

Luật pháp Việt Nam không cấm hàng hóa nhập khẩu về tới cảng Việt Nam mới làm giấy phép nhập khẩu, nếu hàng hóa đó không thuộc hàng cấm. Điều này cũng giống như visa nhập cảnh. Nhiều du khách khi đến sân bay cửa khẩu của nước đến, mới làm visa nhập cảnh.

Công ty Sài Gòn ôtô từ trước cũng đã nhiều lần nhập khẩu xe ôtô tay lái nghịch từ Nhật Bản về Việt Nam trước, để xe ở cảng Sài Gòn, rồi làm thủ tục xin giấy phép nhập khẩu sau.

Nhưng với lô hàng 118 xe tay lái nghịch nhập khẩu năm 1994, thì khi hàng đã về cảng Sài Gòn được 3 ngày, đang làm thủ tục xin giấy phép nhập khẩu, thì có lệnh cấm nhập khẩu xe ôtô tay lái nghịch, do thủ tướng Võ Văn Kiệt ký.

Như vậy hàng về cảng Việt Nam trước 3 ngày, lệnh cấm có sau 3 ngày.

Dĩ nhiên với một người có tư duy bình thường, thì sẽ thấy rằng lô hàng nhập khẩu của ông Trung không hề vi phạm lệnh cấm của chính phủ Việt Nam, vì hàng về trước, lệnh cấm có sau.

Thế nhưng công an thành phố Hồ Chí Minh lập tức cho khởi tố vụ án, khởi tố bị can, và bắt giam ông Nguyễn An Trung vì tội buôn lậu. Ông Trung bị bắt tạm giam gần 10 tháng, lô hàng 118 xe ôtô tay lái nghịch trị giá hơn 1 triệu đôla nhập khẩu từ Nhật bị Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định tịch thu.

Khi hồ sơ vụ ông Nguyễn An Trung đến tay tôi thì phiên tòa xét xử sơ thẩm ông Nguyễn An Trung sắp được mở tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong tập hồ sơ vụ ông Trung, tôi thấy có 2 tài liệu rất đáng chú ý. Đố là bản phân tích vụ án của luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, thuộc đoàn luật sư Hà Nội, và một lá thư dài của các Việt kiều ở khắp trên thế giới ký tên, đề nghị đảng cộng sản Việt Nam, chính phủ xem xét, minh oan cho ông Nguyễn An Trung.

Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh thì tôi rất biết, ông là luật sư nổi tiếng từ thời Pháp, và khi có vụ án ông Trung, thì luật sư Vĩnh đã xấp xỉ 80 tuổi rồi.

Tôi báo cáo lại kết quả nghiên cứu hồ sơ vụ ông Nguyễn An Trung cho ông Tổng biên tập Nguyễn Ngọc Thạch. Ông Tổng biên tập đã đồng ý cho tôi làm vụ này. Báo Đại Đoàn Kết dưới thời ông Nguyễn Ngọc Thạch làm Tổng biên tập,  đã đề nghị luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc Việt Nam làm Chủ nhiệm báo Đại Đoàn Kết. Đây là một đề nghị rất khéo léo. Có luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ nhiệm, chúng tôi có một cái ô rất to, để bảo vệ báo Đại Đoàn Kết trong các cuộc đấu tranh chống sai trái. Nhờ vậy, trong thời gian dài, báo Đại đoàn Kết đã làm được rất nhiều việc, rất có uy tín trong xã hội.

Tôi tìm gặp giáo sư Huỳnh Mùi, cũng nguyên là Việt kiều Nhật, cũng du học ở Nhật trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, đã đỗ tiến sĩ toán học ở Nhật, và sau giải phóng năm 1975, đã về nước với hoài bão đem kiến thức học được ở nước ngoài về làm việc phục vụ đất nước.

Giáo sư Huỳnh Mùi người Huế, là bạn học cũ của ông Việt kiều Nguyễn An Trung ở Nhật, và là người giúp kêu oan cho ông Trung ở Hà Nội. Chính giáo sư Huỳnh Mùi là người đã tập hợp hồ sơ vụ án của ông Nguyễn An Trung, gửi cho các báo, trong đó có báo Đại Đoàn Kết. Văn phòng làm việc của giáo sư Huỳnh Mùi ở phố Yết Kiêu, gần trụ sở báo Đại Đoàn Kết, nên gặp giáo sư rất tiện. (Sau này, giáo sư Huỳnh Mùi là Hiệu trưởng trường đại học dân lập Thăng Long).

Giáo sư Huỳnh Mùi phân tích rất nhiều vấn đề trong vụ án uẩn khúc của ông Nguyễn An Trung cho tôi nghe. Tôi cũng tìm gặp luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, nghe ý kiến ông phân tích các khía cạnh pháp lý về vụ án.

Sau khi nắm chắc nội dung vụ án, tôi viết một loạt ba bài báo về vụ ông Nguyễn An Trung, phân tích các khía cạnh pháp lý của vụ án, phê phán hồ sơ không khách quan của công an Sài Gòn, yêu cầu các cơ quan chức năng minh oan cho ông Nguyễn An Trung. Một loạt các tờ báo ở Hà Nội cũng liên tiếp lên tiếng bênh vực ông Nguyễn An Trung, phê phán cơ quan công an thành phố Hồ Chí Minh.

Có thể nói trong một số khía cạnh, luật báo chí của Việt Nam dân chủ và tự do hơn một số nước khác nhiều. Ở nhiều nước, luật pháp cấm báo chí có ý kiến về các vụ án trước khi vụ án đó được xét xử, vì sợ làm ảnh hưởng đến tính khách quan của các quan tòa. Ở Việt Nam thì không có chuyện cấm đó. Báo chí được tự do bình luận, phân tích, đưa tin, phỏng vấn, tự do nêu quan điểm ủng hộ ai, phê phán ai trước khi phiên tòa xét xử được mở.

Trước khi các báo chí ở Hà Nội lên tiếng ủng hộ ông Trung, thì phần lớn các báo chí ở Sài Gòn chỉ đưa tin một chiều, ủng hộ quan điểm của công an Sài Gòn. Khi đó một số báo chí Sài Gòn dựa vào hồ sơ của công an Sài Gòn để viết, phê phán ông Trung là buôn lậu, vi phạm lệnh cấm của chính phủ.

Tất nhiên sự công tâm của báo chí còn phụ thuộc vào phẩm chất của từng nhà báo, và của ban biên tập của từng tờ báo. Không phải cơ quan báo chí nào, và nhà báo nào cũng đều đủ khả năng và dũng khí để nêu lên sự thật. Đó là chưa kể nhiều nhà báo cũng rất xấu, tham nhũng, như một số nhà báo trong vụ Năm Cam hồi năm 2003.

Tôi nghĩ báo chí trên thế giới cũng như vậy, có người giỏi, người dốt, người tốt, người xấu, người dũng cảm, người hèn nhát.

Sau đó, ngày 28/2/1995, phiên tòa sơ thẩm xét xử ông Nguyễn An Trung đã được mở tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa đại hình này trong chiến tranh Việt Nam đã xét xử khá nhiều người cộng sản, hoặc người có quan hệ với cộng sản, với quân giải phóng. Bây giờ, sau khi chiến tranh kết thúc gần 20 năm rồi, tòa đại hình này lại được sử dụng để xét xử một người Việt kiều yêu nước bị tình nghi “buôn lậu”!

Tôi nghĩ có lẽ hồi còn chiến tranh Việt Nam, khi chính quyền Sài Gòn cũ mở phiên tòa xét xử ông Nguyễn An Trung vắng mặt về tội phản chiến, có lẽ cũng xét xử ở phòng xử án này, nằm cách không xa Dinh Độc lập là mấy, bây giờ mang tên Dinh Thống Nhất.

Tôi cùng một số bạn đồng nghiệp của các báo ở Hà Nội đáp máy bay vào Sài Gòn tham dự phiên tòa. Tại phiên tòa sơ thẩm, lần đầu tiên tôi nhìn thấy mặt ông Nguyễn An Trung, người béo trắng, trán hói, trông rất phúc hậu và trí thức. Tôi cũng nhìn thấy một số người Nhật đại diện của 2 hãng ôtô Itochu và Isuzu của Nhật cũng tham dự phiên tòa. Không có đại diện của Đại sứ quán Nhật. Cũng phải thôi, vì ông Nguyễn An Trung vẫn giữ quốc tịch Việt Nam, ông không phải là công dân Nhật, nên chính phủ Nhật không thể có trách nhiệm với ông được.

Trong suốt hơn 10 tháng ông Trung bị tạm giam, công ty Sài Gòn ôtô của ông phải đóng cửa, nhưng ông vẫn chỉ đạo công ty trả lương đều cho hơn 400 công nhân, vì ông không muốn cuộc sống của công nhân bị điêu đứng vì ông. Nhưng thật ra có phải vì ông Trung mà họ bị điêu đứng đâu.

Khi tham dự phiên tòa, tôi mới biết là có vị thẩm phán đến khi ngồi ghế quan tòa xét xử rồi, mà vẫn nghĩ là ông Nguyễn An Trung đã nhập khẩu xe ôtô con 4 chỗ ngồi, xe du lịch.

Kết thúc phiên tòa, ông Nguyễn An Trung chỉ bị tuyên phạt “Cảnh cáo”, nhưng bị tuyên “tịch thu” 118 xe ô tô tay lái nghịch của ông.

Thật là vô lý.

Nhưng chúng tôi cũng cho đây là thành công bước đầu của công lý, của lẽ phải. Tôi viết bài tường thuật dài về phiên tòa sơ thẩm, nêu rõ ông Trung phải được tuyên không có tội mới đúng, và phải trả lại 118 xe ôtô trị giá hơn 1 triệu đôla cho ông.

Nhiều tờ báo cũng có các bài viết bênh vực ông Nguyễn An Trung, nêu rõ mức án “cảnh cáo”, và “tịch thu xe” là vô lý với ông Trung. Sau này tôi mới biết được là không tịch thu xe không được, vì người ta đã bán đấu giá tất cả lô xe của ông Trung rồi, và đã chia tiền xong rồi.

Nhưng phải 5 tháng sau, ngày 5/7/1995, phiên tòa phúc thẩm mới được mở.

Phiên tòa này đã tuyên ông Trung “vô tội”, hủy bản án sơ thẩm, nhưng 118 xe ôtô lại không tuyên trả ông Trung, mà tuyên “giao ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết”.

Dù sao, các anh em báo chí chúng tôi tham dự phiên tòa vô cùng vui mừng. Các anh em báo chí Sài Gòn cũng rất vui mừng. Trước kia, nhiều người đã viết bài báo phê phán ông Trung, bây giờ đã thấy rõ sự thật.

Chúng tôi lập tức có bài viết gửi ra Hà Nội, tường thuật chi tiết diễn biến phiên tòa, và kết thúc có hậu của phiên tòa. Dù sao thì cuối cùng công lý cũng đã đến với ông Trung. Tôi viết bài tường thuật phiên tòa phúc thẩm, khen ngợi kết quả phiên tòa, và đề nghị thành phố Hồ Chí Minh phải trả lại 118 xe ôtô trị giá hơn 1 triệu đôla cho ông.

Sau khi phiên tòa phúc thẩm kết thúc được vài tháng, tôi tham dự kỳ họp Quốc hội cuối năm 1995. Một quan chức cao cấp của Quốc hội gặp tôi, và nói là Chính phủ đã nhận được báo cáo sai sự thật về vụ ông Nguyễn An Trung, báo cáo sai rằng ông Trung chuyên nhập lậu xe ôtô 4 chỗ ngồi, nên đã có sự chỉ đạo sai trái về vụ ông Trung. Vị quan chức này nói việc xử lý oan ông Trung quả là điều rất đáng tiếc. Nhưng việc làm oan “đáng tiếc” đó không làm quan chức nào ở thành phố Hồ Chí Minh mất chức cả.

Về số xe ôtô của ông Trung, trước khi phiên tòa xử ông Trung kết thúc, người ta đã cho hóa giá bán rất rẻ số xe ôtô đó, và đã gây ra một vụ án tham nhũng khác do biển thủ tiền bán xe ôtô của ông Trung.

Việc minh oan cho ông Nguyễn An Trung có công lao to lớn của đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười. Chính đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười đã chỉ đạo phải xử lý công tâm, không được bóp méo sự thật trong vụ án này, nên ông Nguyễn An Trung đã được xử trắng án.

Cuối năm 2000, tôi thôi nghề báo ở Việt Nam, sang Nhật định cư, và năm 2001, tôi được nhận vào làm giáo viên dạy tiếng Việt ở trường Đại học ngoại ngữ Tokyo.

Ở đó, tôi gặp thầy giáo Huỳnh Trí Chánh, nguyên chủ tịch Hội Việt kiều yêu nước ở Nhật, người đã tập hợp đông đảo ý kiến của các Việt kiều trên toàn thế giới lên tiếng bênh vực ông Nguyễn An Trung.

Đúng là trái đất thật nhỏ bé, và chúng tôi đã gặp được nhau. Khi tiếp xúc với thày giáo Chánh, tôi mới biết đó là người chỉ đạo phong trào đòi minh oan cho ông Trung ở nước ngoài, khi ông Trung vẫn còn bị công an thành phố Hồ Chí Minh giam giữ trong Khám Chí Hòa ở Sài Gòn.

Tôi cũng biết anh Chánh là người tích cực tham gia phong trào phản chiến trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam cùng với ông Nguyễn An Trung, và cũng là người chỉ đạo việc cướp Đại sứ quán của chính quyền Sài Gòn cũ ở Tokyo, khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, để giữ nguyên cơ sở vật chất của đại sứ quán cho chính quyền mới.

Khi đến làm việc tại khoa tiếng Việt, tôi thấy rất thích thú khi thấy trong phòng có tập các bài báo Việt Nam nói về vụ ông Nguyễn An Trung, do anh Chánh tập hợp, trong đó có cả các bài báo của tôi, ký tên Tổ phóng viên báo Đại Đoàn kết. Ở Việt Nam, khi tôi viết các bài phóng sự điều tra, để tránh sự trả thù cá nhân, tôi thường ký tên “Tổ phóng viên”.

Tôi nghĩ nếu không có ý kiến của đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười, thì vụ án oan của ông Nguyễn An Trung cũng không thể giải quyết được, dù báo chí có lên tiếng bênh vực ông Trung. Thế cho nên ý kiến công tâm của các vị lãnh đạo đảng và Nhà nước là quan trong nhất trong giải quyết các oan khuất của dân.///

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

hochiminhbao.com


Recent Posts
Sài Gòn xưa


Hà Nội xưa