hochiminhbao.com
               Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai-Lời vua Lý Thái Tông
       Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc-Lời tướng Trần Hưng Đạo
        Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc thì phải đàn hặc ngay-lời vua Lê Lợi
                                  Cán bộ là công bộc của dân-Lời Hồ Chí Minh
   Việc gì lợi cho dân, thì phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh-Lời Hồ Chí Minh
                          Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam-Lời Hồ Chí Minh
                 Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân-Lời Nguyễn Trãi

Vụ án cầu Chương Dương-Hà Nội

Vào một ngày đầu năm 1992, một người đàn ông còn trẻ tìm đến báo Đại Đoàn Kết gặp tôi. Anh nói rằng anh đã đến nhiều báo ở Hà Nội để trình bày sự việc của con trai anh, nhưng đều bị các báo từ chối. Có người giới thiệu anh nên đến gặp tôi trực tiếp ở báo Đại Đoàn Kết. Anh tên là Nguyễn Văn Lát, bố của nạn nhân Nguyễn Việt Phương, bị bắn chết vào ngày cuối năm, giáp Tết. Anh Lát giọng mệt mỏi, phẫn uất, kể lại chuyện  con trai anh.

Con trai anh là Nguyễn Việt Phương, làm việc cho một công ty liên doanh giữa Nhật, Hàn Quốc, Philippine, sản xuất tivi Etron. Khi đó hệ thống ngân hàng của Việt Nam hoạt động chưa tốt, nên các giao dịch chuyển tiền ở Việt Nam chủ yếu là trực tiếp, không qua ngân hàng.

Công ty Etron cũng vậy. Tivi Etron bán được ở Hà Nội, thu được tiền, thì chuyển tiền vào thành phố Hồ Chí Minh qua đường hàng không. Nhiệm vụ của em Phương, con trai anh Lát là hàng tuần, chở bằng xe máy một bọc tiền khoảng 50 triệu đồng qua cầu Chương Dương, sang Gia Lâm, giao cho một phi công, để người này hôm sau mang tiền vào thành phố Hồ Chí Minh.

Thế rồi khoảng 7 giờ tối của một ngày giáp Tết Âm lịch, đầu năm Dương lịch năm 1993, (ngày 29 tháng 2 năm 1993), như thường lệ, em Phương chở bọc tiền sang Gia Lâm, đi qua cầu Chương Dương, thì bị một cảnh sát giao thông gác ở đầu cầu chặn lại. Sau đó có tiếng súng nổ, và em Phương bị bắn chết.

Công an Hà Nội đã kết luận đây là vụ “súng cướp cò”, chẳng may gây chết người trong khi thi hành công vụ.

Nhưng theo anh Lát, đây là một vụ cướp không thành, con anh bị bắn chết, nhưng bọc tiền 50 triệu chưa kịp bị lấy đi, vì khi đó có một số nhân chứng chạy đến cấp cứu cho em Phương. Anh Lát nói anh đã đi đến hết tất cả các báo ở Hà Nội nhờ can thiệp, nhưng các cơ quan báo chí đều sợ công an Hà Nội, nên đều từ chối, trả lại hồ sơ đơn khiếu kiện cho anh Lát.

Anh Lát đưa cho tôi các đơn thư khiếu nại của anh, nhờ tôi giúp đỡ.

Tôi đọc lại đơn của anh, và đọc bản trả lời của công an Hà Nội cho gia đình anh, nói rằng đấy chỉ là vụ sơ xuất đáng tiếc của nhân viên cảnh sát giao thông.

Tôi cảm thấy có chuyện mờ ám trong vụ này. Vì sao tôi có linh tính đó thì tôi không biết.

Ít hôm sau tôi báo cáo sự việc với đồng chí Tổng biên tập Ngọc Thạch, đề nghị ông giao cho tôi làm vụ này. Tôi nói thêm với ông là nếu ông không giao cho tôi làm vụ này, thì tôi cũng sẽ tự làm với lương tâm của một nhà báo, và sẽ cung cấp bài viết về vụ này cho bất kỳ tờ báo nào khác có thể được.

Ông cân nhắc, sau đó đồng ý. Tôi rủ thêm anh Quốc Khánh, phóng viên có kinh nghiệm điều tra của báo Đại Đoàn Kết cùng tham gia với tôi.

Một buổi tối, chúng tôi đến nhà anh Lát, nằm ở ven sông Hồng, gần cầu Chương Dương. Ngôi nhà nhỏ 2 tầng, lụp xụp, mùi hương khói nghi ngút. Vợ anh Lát, một phụ nữ trẻ và đẹp, nét mặt rất đau khổ vì cái chết của con trai. Anh Lát kể lại chi tiết hơn các tình tiết xung quanh cái chết của em Phương.

Buổi tối hôm cuối năm đó, khoảng 7 giờ tối, trời se lạnh, Phương rời công ty , chở tiền sang Gia Lâm, hẹn với gia đình là xong việc sẽ về nhà ăn cơm. Đó là ngày giáp Tết.

Cả gia đình chờ Phương về để ăn cơm. Nhưng chờ mãi không thấy. Đã hơn 10 giờ tối.

Anh Lát quyết định đi tìm con.

Anh cùng người nhà phóng xe đi các nơi mà anh dự đoán Phương có thể đến, nhưng không thấy. Cuối cùng anh quyết định đi đến các bệnh viện để tìm con. Anh đoán nếu con bị tai nạn giao thông, thì có thể tìm thấy con ở bệnh viện.

Anh đã đi đến một vài bệnh viện, và cuối cùng,  đến bệnh viện Việt Đức.

Anh vào phòng cấp cứu để hỏi xem có ai bị tai nạn giao thông không. Nhân viên phòng cấp cứu nói không có ai bị tai nạn giao thông. Anh Lát chán nản đi ra, định đi đến bệnh viện khác, thì nhân viên phòng cấp cứu buột miệng nói là chỉ có một thanh niên bị đạn bắn chết.

Anh Lát đề nghị cho xem mặt. Chỉ là một đề nghị bâng quơ. Anh Lát không bao giờ nghĩ con mình bị bắn chết. Anh được dẫn xuống nhà xác. Và anh nhận ra con trai anh, Nguyễn Việt Phương, nằm trong nhà xác, hai lỗ mũi bịt bông, trên người có 3 vết đạn, một vết đạn ở gần hõm xương đòn gánh, dưới cổ, một vết dạn ngay dưới tim, và một vết đạn xuyên qua ngón tay cái của bàn tay phải, đạn bắn rất gần nên lỗ đạn ở ngón tay bị khói thuốc súng đốt cháy xém đen.

Bác sĩ pháp y nói trong người em Phương bị đọng lại 2 viên đạn, bác sĩ đã lấy được 2 đầu đạn đó, nhưng có tới 3 vết đạn bắn, tức là có lẽ viên đạn thứ hai bắn khi em Phương bị bắn viên thứ nhất vào dưới cổ, đau quá em cúi gập người, hai tay ôm người, thì bị bắn viên thứ hai, bắn xuyên qua ngón tay và vào dưới tim.

Vợ anh Lát nghẹn ngào bổ sung thêm câu chuyện. Sau khi biết con bị bắn chết, gia đình anh Lát lên Sở công an Hà Nội đề nghị giải thích về nguyên nhân chết của em Phương. Nhưng công an không cung cấp bất cứ thông tin cụ thể nào liên quan đến cái chết của em Phương.

Buổi tối hôm phát hiện xác con ở nhà xác, vợ anh Lát nằm mơ thấy con trai hiện về. Chị không nhìn thấy rõ mặt con. Nhưng chị nghe thấy rất rõ con trai nói :

-“Mẹ ơi, con bị thằng cảnh sát giao thông nó giết ở cầu Chương Dương. Thằng ấy nó có nốt ruồi ở mặt.”

Sau đó con trai biến mất. (Sau này khi ở phiên tòa xử viên trung úy cảnh sát giao thông Nguyễn Tùng Dương, thủ phạm bắn chết em Phương, chúng tôi để ý thấy Dương có nốt ruồi ở bên mặt).

Sau hôm được con trai báo mộng, gia đình anh Lát làm một mâm cỗ cúng, đặt ở trên cầu Chương Dương, hi vọng có ai biết rõ sự việc, đi qua, thì họ sẽ nói cho gia đình biết. Nhiều người đi qua lại trên cầu Chương Dương, thấy mâm cỗ cúng đặt ở đấy, tò mò dừng lại xem.

Chợt có 2 anh xe ôm đến, nói là chỗ xảy ra vụ án mạng không phải là đoạn này, mà là ở đoạn kia cơ. Đó là 2 người xe ôm, nhân chứng duy nhất của vụ án.

Anh Lát dẫn chúng tôi lên tầng 2, nơi để bàn thờ, có ảnh của em Nguyễn Việt Phương. Đó là một thanh niên 21 tuổi, trẻ măng, đẹp trai, thư sinh. Tôi và Quốc Khánh thắp hương cho Phương, khấn em phù hộ cho chúng tôi làm rõ sự thật của vụ án.

Anh Lát kể thêm là cái hôm định mệnh đó, mà cả nhà ngồi chờ em Phương về ăn cơm, không hiểu sao hôm đó ở nhà lại bật băng nhạc có bài hát “Tết này con không về”, một bài hát thời tiền chiến ở miền Nam buồn não nùng.

Hôm sau, tôi và Quốc Khánh tìm đến nhà 2 anh xe ôm, nhân chứng duy nhất nhìn thấy một phần sự việc.

Ở Việt Nam, xe ôm là loại ”taxi xe máy”, khách đi xe ôm ôm lấy người lái cho khỏi ngã, nên được gọi là xe ôm. Đi xe ôm rẻ hơn đi taxi nhiều. 2 người lái xe ôm có 2 chiếc xe máy làm phương tiện sinh nhai. Họ sống trong một xóm nhỏ nghèo nàn ở Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Ngày ngày, 2 anh đi 2 xe máy chở khách từ Gia Lâm đi Hà Nội, qua cầu Chương Dương, và ngược lại.

Một trong 2 người nguyên là giáo viên dạy võ ở trường thể dục thể thao Từ Sơn, nay bỏ nghề về làm nghề lái xe ôm. Câu chuyện của 2 anh xe ôm kể lại cho chúng tôi nghe như sau.

Buổi tối hôm xảy ra vụ án mạng, 2 anh xe ôm đang trên đường về nhà. Trời rét, và đang là ngày giáp tết, nên họ về nhà sớm.

Cầu Chương Dương có 2 chiều ngược nhau. Một chiều đi về phía Gia Lâm, và một chiều đi về phía Hà Nội. Khi đang đi trên cầu Chương Dương về phía Gia Lâm, chợt họ nghe thấy có tiếng kêu yếu ớt “cướp, cướp, cứu với”. Tiếng kêu từ phía bên kia cầu vọng lại, phía đường đi về Hà Nội.

Hai anh xe ôm dừng xe lại. Người nguyên là giáo viên dạy võ nói với bạn là đứng chờ, để mình sang bên kia cầu xem có chuyện gì. Anh là người giỏi võ, nên có bản lĩnh, không sợ nguy hiểm. Khi trèo qua các hàng lan can ở giữa cầu để nhảy sang bên kia cầu, thì anh thấy có một người nhỏ bé lảo đảo đi loạng choạng về phía anh, nói nhỏ “cướp đấy, cứu em với”, rồi gục xuống đường. Anh xe ôm thận trọng chưa tiến lại, vì thấy người nhỏ bé nói “cướp”, nên anh thấy cần phải thận trọng.

Khi đó, anh nhìn thấy một người đứng gần đấy, không đội mũ. Người này cúi xuống nhặt cái mũ bị rơi đội lên đầu. Khi đó anh xe ôm nhận ra đó là cái mũ công an, tức là người đó là công an. Khi đó anh xe ôm thấy yên tâm, tiến lại gần hơn. Có 2 chiếc xe máy đậu, quay đầu về phía Hà Nội.

Lúc này anh yên tâm vì thấy có công an, nên cúi xuống nâng người nhỏ dậy. Anh thấy có nhiều máu. Lúc đó bạn anh, người xe ôm thứ hai, cũng chạy sang.

Theo một phản xạ tự nhiên, hầu như vô thức, anh xe ôm thứ nhất hỏi người cảnh sát:

-“Ông bắn nó à?”.

“-Không”, người cảnh sát trả lời.

“-Không thì tại sao người nó ra nhiều máu thế này?”, anh xe ôm lại hỏi.

Khi đó người cảnh sát mới trả lời:

“-Ừ”.

Anh xe ôm thứ hai lúc đó nhặt được một ống sắt có nhiều lỗ, và đôi dép.

Anh tiến lại một cái xe máy, thấy có một bọc to để ở khung xe phía trước người lái. Anh xe ôm thứ hai tò mò lấy tay nhấc nhấc chiếc túi.

Viên cảnh sát vô tình nói:

-“Tiền đấy”.

Sau này dư luận đã xoáy vào câu hỏi tại sao cái bọc kín đó mà viên cảnh sát Nguyễn Tùng Dương biết là “bọc tiền đấy”.

Và theo anh xe ôm thứ hai, thì khi đó bọc tiền nằm ở chiếc xe máy mới hơn, tức chiếc xe máy của viên cảnh sát, chứ không phải nằm ở chiếc xe máy cũ, tức chiếc xe máy của em Phương.

Khi đó có một xe ô-tô đi lại. Anh xe ôm vẫy xe lại để đưa nạn nhân đi cấp cứu. Lúc này viên cảnh sát thứ hai xuất hiện, lo bảo quản hiện trường.

Anh xe ôm thứ nhất cùng viên cảnh sát thứ nhất lên xe ôtô đưa nạn nhân đến bệnh viện Việt Đức cấp cứu.

Công an Hà Nội được thông báo ngay sự việc, sau đó viên cảnh sát thứ nhất bị bắt giam ngay. Đó là viên trung úy cảnh sát giao thông Nguyễn Tùng Dương. Hôm đó, Dương cùng với một cảnh sát khác trong ca trực ở đầu cầu Chương Dương.

Sau đó công an Hà Nội đã nhiều lần mời 2 anh xe ôm lên làm việc.

Nhân viên điều tra đưa cho anh xe ôm thứ hai xem một cái ống bơm xe đạp, hỏi anh xem đây có đúng là ống sắt anh đã nhặt được ở hiện trường nơi xảy ra vụ án mạng không. Anh xe ôm kiên quyết không nhận.

– “Tôi nhìn thấy một ống sắt có nhiều lỗ, chứ không phải cái ống bơm xe đạp này. Tôi có phải là trẻ con đâu mà nhìn nhầm”, anh xe ôm trước sau như một, chỉ trả lời như vậy.

Cả hai anh xe ôm đều nói không hề nghe thấy tiếng súng nổ, mà chỉ nghe thấy tiếng kêu yếu ớt của em Phương “cướp, cướp, cứu em với”. 2 anh xe ôm nói dù đi bất cứ nơi đâu, dù bất cứ điều gì xảy ra, thì 2 anh cũng chỉ khai sự thật vẻn vẹn như vậy, không hơn, không kém, và không hề sợ điều gì.

Đó là nội dung chủ yếu câu chuyện của 2 anh xe ôm tốt bụng và dũng cảm.

Chúng tôi đi đến cầu Chương Dương, dừng lại ở chỗ xảy ra vụ án mạng. Anh Lát chỉ cho chúng tôi thấy đoạn sông Hồng ngay phía dưới chỗ xảy ra án mạng là sâu nhất. Anh Lát nói nếu có vật gì rơi xuống sông Hồng chỗ đoạn này, thì sẽ bị chìm rất sâu, không dễ gì phát hiện ra ngay vật bị rơi. Chúng tôi hiểu ý anh muốn nói gì.

Mấy hôm sau, tôi và Quốc Khánh đến bệnh viện Việt Đức.

Chúng tôi làm việc với Ban Giám đốc bệnh viện, sau đó đề nghị được làm việc với phòng cấp cứu, và bộ phận mổ tử thi.

Lúc đầu Ban lãnh đạo bệnh viện Việt Đức có vẻ e ngại, nhưng sau đó cũng đồng ý. Ở phòng cấp cứu, chúng tôi gặp nữ y tá có ca trực hôm em Phương bị chết.

Thật tội nghiệp cho chị nữ y tá này. Chị rất ngại nói chuyện với chúng tôi. Thật là “trên đe dưới búa”, vì một bên là áp lực của nhà báo, một bên là e ngại công an. Nhưng cuối cùng chúng tôi cũng thuyết phục được chị nói hết những gì chị chứng kiến hôm xảy ra án mạng.

Theo chị trình bày, em Nguyễn Việt Phương được nhân viên cảnh sát giao thông Nguyễn Tùng Dương đưa vào phòng cấp cứu khi em Phương đã chết. Sau khi mời bác sĩ khám nghiệm tử thi, chị lấy sổ trực để ghi các thông tin về người chết. Viên cảnh sát giao thông đọc các thông tin về em Phương cho chị ghi. Đến phần nguyên nhân chết, viên cảnh sát giao thông nói em Phương bị tai nạn giao thông chết.

Chị ghi chứ “tai nạn” vào sổ trực, nhưng sau đó buột miệng hỏi lại “tai nạn giao thông chết thì tại sao lại có vết đạn trên người?”

Khi đó viên cảnh sát Nguyễn Tùng Dương sửa lại là “bị bắn”, nên chị y tá gạch chứ “tai nạn” đi, và viết sang bên cạnh chữ “bị bắn”.

Tôi lấy máy ảnh ra chụp lại chi tiết rất quan trọng này của Sổ Trực của chị y tá tội nghiệp. Vì sau nay chị bị mời ra làm nhân chứng khi xét xẻ vụ án này. Trong phiên xét xử, trông chị thật là thiều não, tội nghiệp. Chị đâu có bao giờ nghĩ chị bị lôi vào vòng lao lý này đâu.

Làm việc với phòng cấp cứu xong, tôi và Quốc Khánh đến phòng pháp y mổ tử thi. Một bác sĩ tiếp chúng tôi. Bác sĩ này giải thích cho chúng tôi về đường đạn bắn vào người em Phương, nhưng rất chung chung.

Khi anh bác sĩ đang nói chuyện với tôi, thì Quốc Khánh phát hiện bộ ảnh chụp tử thi em Phương để ở trên bàn. Chúng tôi lần giở tập ảnh ra xem, người bác sĩ không thể ngăn cản được. Trên tử thi của em Phương, chúng tôi thấy có 3 vết đạn, một ở hõm vai, gần cổ, một ở ngực, vùng tim, và một ở ngón tay cái. Ngón tay cái bị bắn thủng, gần đứt, cháy xém đen. Lúc này người bác sĩ mới nói là chỉ cần 1 trong 2 phát đạn trên người là đủ làm em Phương chết. Còn phát đạn thứ ba bắn xuyên qua ngón tay cái thì thật khó hiểu. Cả hai phát đạn trên người đều nằm lại trong người, không chui ra khỏi cơ thể nạn nhân, mặc dù bắn rất gần. Viên bắn ở gần cổ xuyên dọc xuống phía thắt lưng, và nằm lại ở vùng thắt lưng. Viên bắn vào ngực vì vướng phải xương sống, nên bị mắc lại ở phía sau lưng.

Sau đó, chúng tôi đi thu thập thêm các thông tin về vụ án. Các sự việc xảy ra giữa em Phương và viên cảnh sát giao thông, theo như viên cảnh sát giao thông Nguyễn Tùng Dương khai với cơ quan cảnh sát điều tra, và sau này khai với viện kiểm sát, là như sau:

Tối hôm đó, viên cảnh sát Nguyễn Tùng Dương cùng một cảnh sát khác trực ở đầu cầu Chương Dương. Khi em Phương phóng xe máy lên cầu Chương Dương để đi sang Gia Lâm, Dương nhìn thấy xe máy của em Phương không có đèn, nên đuổi theo để yêu cầu Phương quay xe máy lại trạm cảnh sát để giải quyết.

Sang tới đầu cầu phía Gia Lâm thì đuổi kịp, Dương bắt em Phương quay xe lại phía Hà Nội để đi về trạm cảnh sát ở đầu cầu.

Đến đây thì viên cảnh sát Nguyễn Tùng Dương thay đổi rất nhiều lời khai, trong đó có một lời khai như sau: đang đi, em Phương dừng xe máy, và xin Dương tha cho đi. Viên cảnh sát Dương không đồng ý tha. Hai bên cãi cọ. Sau đó em Phương đột nhiên muốn đi tiểu. Sau đó em Phương đi tiểu ngay trên cầu. Viên cảnh sát Dương lúc ấy theo phản xạ tự nhiên, cũng cảm thấy mót đi tiểu. Nên Dương cũng đứng cạnh em Phương và tụt quần ra để đi tiểu. Khi kéo quần xuống để đi tiểu, thì khẩu súng mà Dương gài ở cạp quần rơi xuống đường. Em Phương liền chộp lấy khẩu súng. Dương cũng vội chộp lấy tay em Phương để giằng súng lại. Hai bên giằng co nhau, và súng bị cướp cò, nổ, em Phương bị chết.

Cơ quan công an Hà Nội đã sử dụng lời khai “súng cướp cò khi đi tiểu” này để kết luận Dương phạm tội “vô ý giết người trong khi thi hành công vụ”.

Với tội danh này, thì Dương có thể chỉ bị nhiều nhất là 2 năm tù. Thậm chí có thể chỉ bị án treo. Đây là điều khiến cho gia đình anh Lát, bố em Phương, phẫn nộ nhất.

Sau này viện kiểm sát còn phát hiện ra viên cảnh sát Dương đã sử dụng biển số giả để lắp vào xe máy của mình, hôm xảy ra án mạng. Khẩu súng mà Dương “bị cướp cò khi đi tiểu” cũng là khẩu súng đã bị cấp trên yêu cầu thu hồi từ trước, nhưng Dương chưa nộp cấp trên, vẫn sử dụng.

Cơ quan kỹ thuật hình sự của công an thì kết luận rằng khẩu súng này không lắp được ống giảm thanh!!!

Về phía gia đình anh Lát, anh cho biết thêm là trước kia, thỉnh thoảng em Phương sau khi đưa tiền đi qua cầu Chương Dương về, có nói là một viên cảnh sát giao thông tên gác ở đầu cầu thỉnh thoảng chặn xe em Phương đòi tiền mãi lộ, và viên cảnh sát này biết em Phương chở tiền cho công ty. Một số lời đồn đại, không biết có đúng hay không, nói rằng trước hôm xảy ra vụ án, viên cảnh sát Dương đã đánh bạc, và thua rất nhiều tiền.

Phía công ty nơi em Phương làm việc cho biết chiếc xe máy em Phương sử dụng để chở tiền cho công ty sang Gia Lâm là xe cũ, nhưng rất tốt, không bao giờ công ty để xe bị hỏng đèn mà đi đêm.

Xe máy đi ban đêm mà không có đèn thì vừa nguy hiểm cho người lái, vừa dễ bị cảnh sát giao thông phạt. Bởi vậy công ty luôn bảo trì xe tốt để bảo đảm việc chuyển tiền trôi chảy.

Việc viên cảnh sát giao thông nói “vì xe em Phương không có đèn”, nên phải chặn xe để kiểm tra, là không đúng.

Tập hợp tất cả các thông tin có được, tôi và Quốc Khánh khẳng định là không thể có chuyện “súng cướp cò”. Chúng tôi suy nghĩ rất nhiều về 3 vết đạn trên cơ thể em Phương. Tôi đặt ra rất nhiều diễn biến để giải thích về 3 phát đạn này. Cuối cùng có một diễn biến tôi tin tưởng nhiều nhất.

Có thể là như sau.

Hôm đó, viên cảnh sát đuổi kịp em Phương, và yêu cầu em Phương quay xe lại. Em Phương chấp hành, quay xe lại. Đến đoạn cầu tối, nơi có dòng nước sâu nhất, Dương bảo em Phương dừng xe lại. Em Phương dừng xe, dựng chân chống xe. Dương cũng dừng xe, dựng chân chống, rồi tiến lại phía em Phương, hoặc em Phương tiến lại gần Dương, hoặc cả hai tiến lại gần nhau. Dương rút súng bắn vào ngực em Phương, phía tim. Viên đạn xuyên ra phía sau, và bị mắc ở xương sống. Em Phương gục xuống, 2 tay ôm lấy người theo phản xạ tự nhiên. Một tay che vào chỗ đau, một tay quờ quạng ở cổ. Lúc này Dương bắn phát thứ hai. Vì em Phương đang quỵ người thấp xuống, nên viên đạn xuyên qua ngón tay cái của bàn tay đang quờ quạng ở cổ, xuyên vào hõm vai gần cổ, và xuyên dọc theo chiều cơ thể đang cúi, chạy đến vùng thắt lưng thì hết đà, nằm lại gần viên đạn thứ nhất. Như vậy 2 viên đạn gây ra 3 vết thương.

Tôi cho rằng viên đạn bắn vào gần cổ phải là viên đạn thứ hai, khi Phương đang gục xuống do bị viên đạn thứ nhất bắn vào ngực. Nếu đó là viên đạn thứ nhất, có nghĩa là được bắn vào người Phương khi em đang khỏe mạnh, tức đang đứng thẳng người, thì chắc chắn viên đạn này sẽ xuyên qua cổ để chui ra ngoài. Nhưng thực tế viên đạn này đã bắn vào vùng gần cổ, sau đó chạy dọc xuôi theo cơ thể để xuống vùng thắt lưng, và nằm lại trong người nạn nhân vì hết đà. Tức là nạn nhân bị bắn khi đang ở tư thế cúi người.

Sau khi bị 2 phát đạn chí mạng, em Phương lảo đảo gục xuống, kêu yếu ớt “cướp, cướp, cứu em với”.

Vừa khi đó thì 2 anh xe ôm xuất hiện. Nếu súng cướp cò, thì chỉ cướp cò một phát. Còn nếu cướp cò tới 2 phát, thì không thể có 2 vết thương cách nhau khá xa như vậy. Em Phương dáng người nhỏ bé, chỉ cao hơn 1,5 mét. Còn viên cảnh sát Dương thì khá cao to, lực lưỡng, nguyên là cầu thủ bóng đá. Thật khó mà tin được có chuyện dằng co nhau khẩu súng của Dương.

Tất nhiên đó chỉ là dự đoán của tôi, vì sự việc trước khi 2 anh xe ôm xuất hiện thì chỉ có Dương và em Phương biết.

Mà em Phương thì chết rồi. Dương thì chỉ nói là “súng cướp cò” do giằng co.

Vì sao có “giằng co” thì Dương không trả lời được, luôn luôn thay đổi lời khai. Đầu tiên Dương khai là súng bị rơi, em Phương lao đến chộp súng, và Dương lao đến giằng co súng trong tay em Phương. Sau này, tại phiên tòa xét xử Dương, Dương lại thay đổi lời khai, nói là súng ở trong tay Dương, và em Phương lao đến cướp súng trong tay Dương, chứ không phải Dương lao đến cướp súng trong tay em Phương.

Tại phiên tòa, Dương cố làm động tác bị em Phương “giằng co”, bẻ tay Dương. Người ta thấy chỉ có người to khỏe hơn Dương, giỏi võ mới có thể bẻ quặt tay Dương được như vậy.

Nhưng em Phương thì rất nhỏ bé, yếu ớt, không biết võ. Nhưng mà dù em Phương có biết võ, thì em Phương cướp súng của Dương để làm gì? Và tại sao Dương lại rút súng ra? Em Phương đã làm gì để Dương phải rút súng ra thì Dương không trả lời được.

Khi chúng tôi sắp hoàn thành công việc điều tra ban đầu về vụ án cầu Chương Dương, thì Sở công an Hà Nội tổ chức một cuộc họp báo, mời đông đảo các báo ở Hà Nội, trung ương và địa phương đến dự, để giải thích về vụ án cầu Chương Dương.

Cuộc họp báo được tổ chức ở số 42 Hàng Bài, trụ sở của Tổng cục cánh sát. Có lẽ Sở công an Hà Nội mượn trụ sở của Tổng cục Cảnh sát để họp báo, chứ không họp báo trong Sở Công an Hà Nội ở đường Trần Hưng Đạo, để tạo thế khách quan cho cuộc họp báo.

Đại diện của công an Hà Nội trình bày một số diễn biến của vụ án, và kết luận viên cảnh sát Nguyễn Tùng Dương đã vô ý gây chết người, rằng đó là một sự việc đáng tiếc. Sau đó đại diện báo Công an nhân dân, tờ báo của Bộ công an, cũng đứng lên phát biểu, đồng tình với quan điểm của công an Hà Nội.

Có thể nói khi đó, các cơ quan báo chí khác chưa tham gia nhiều vào vụ án này, nên phần lớn các nhà báo tham dự cuộc họp báo đều chưa hiểu hết tất cả các chi tiết, diễn biến của vụ án như tôi và Quốc Khánh.

Chúng tôi đã tiến hành điều tra trước nhiều báo bạn cả tháng trời trước khi có cuộc họp báo này. Tại cuộc họp báo, tôi đã đứng lên chất vấn khoảng trên mười câu hỏi liên quan đến các diễn biến của vụ án. Tôi cũng phê phán thái độ “bênh ngành mình” thiếu khách quan của đại diện báo công an.

Có thể nói đại diện của công an Hà Nội đã không trả lời được thỏa đáng bất kỳ câu hỏi nào của tôi trong cuộc họp báo đó. Chúng tôi cho đó là một thành công của chúng tôi, những nhà báo đang muốn làm rõ sự thật của vụ án này.

Sau khi hoàn thành việc điều tra ban đầu vụ án cầu Chương Dương, tôi và Quốc Khánh báo cáo Ban biên tập, đề nghị cho viết phóng sự đầu tiên về vụ em Phương. Tổng biên tập Ngọc Thạch đồng ý.

Quốc Khánh để tôi viết. (Bây giờ anh Quốc Khánh là Phó tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết)

Tôi viết phóng sự điều tra đầu tiên, 2 kỳ, với đầu đề “Vụ án cầu Chương Dương”. Báo chí không phải là cơ quan giải quyết, kết luận sự việc. Nên bài phóng sự của tôi chỉ đưa ra các phân tích về các nghi vấn của vụ án, đưa ra các câu hỏi, giả thiết, và đề nghị cơ quan điều tra trả lời các câu hỏi mà dư luận đặt ra.

Có thể nói 2 bài báo trên báo Đại Đoàn Kết về vụ án cầu Chương Dương đã như 2 quả bom dư luận ở Hà Nội và cả nước khi đó.

Chẳng phải tờ báo nào cũng dám có bài viết phê phán công an.

Chúng tôi rất hiểu ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới thì dư luận nói chung của nhân dân là không ưa cảnh sát, một cơ quan có quyền bắt người, và đôi khi đánh người, giết người vô cớ.

Tôi có khá nhiều bạn là công an. Nói chung các bạn tôi đều là những cảnh sát tốt, trung thực, có trách nhiệm với công việc. Nhưng tôi cũng hiểu rằng một bộ phận trong ngành công an Việt Nam cũng đang gây ra rất nhiều việc xấu, mà vụ án Năm Cam xảy ra hồi năm 2003 với rất nhiều công an dính líu là một điển hình. Cảnh sát giao thông lại càng bị tiếng xấu, vì một bộ phận cảnh sát giao thông của Việt Nam đang thực sự trở thành những “tên cướp ngày” xấu xa, nhơ nhớp mà nhân dân rất phẫn nộ. Bởi vậy rất dễ hiểu là tại sao nhân dân rất quan tâm đến vụ án cầu Chương Dương.

Các bài báo của báo Đại Đoàn Kết phê phán công an Hà Nội và viên cảnh sát giao thông Nguyễn Tùng Dương đã nói hộ cho người dân lành biết bao điều phẫn uất hàng ngày mà họ đang phải chịu đựng, do các nhân viên cảnh sát xấu gây ra.

Báo Đại Đoàn Kết đã tăng số lượng phát hành lên thêm hàng vạn tờ mà vẫn không đáp ứng đủ cho nhu cầu bạn đọc cả nước. Người ta đã phôtôcoppi các bài báo về vụ án cầu Chương Dương để bán.

Sau đó một loạt các báo khác cũng bắt đầu lên tiếng về vụ án cầu Chương Dương, mà mạnh nhất là báo Phụ Nữ Thủ Đô, tờ báo của Hội liên hiệp phụ nữ Hà Nội, với các bài báo sắc sảo của nhà báo Hương Huyền.

Sau 2 bài phóng sự điều tra đầu tiên của tôi, báo Đại Đoàn Kết nhận được “hàng núi” thư của bạn đọc xa gần trong cả nước, hưởng ứng bài báo. Nhiều chuyên gia pháp luật, nhiều cán bộ làm việc trong ngành pháp luật như công an, viện kiểm sát,,,cũng bí mật gửi ý kiến phân tích các khía cạnh pháp lý của vụ án cho báo Đại Đoàn Kết. Tổng biên tập Ngọc Thạch đã chỉ đạo đăng một loạt các ý kiến bạn đọc lên báo .

Trước sức ép của dư luận đòi làm sáng tỏ vụ án, công an phải trưng cầu cơ quan giám định pháp y của Bộ quốc phòng giám định lại các vết đạn trên tử thi của em Phương. Đại tá Vũ Ngọc Thụ, Viện trưởng Viện giám định pháp y quân đội đã tiến hành khai quật tử thi em Phương để giám định lại. Kết quả giám định đường đạn của giáo sư Thụ là một chứng cớ có sức thuyết phục để kết tội “giết người” cho viên cảnh sát Nguyễn Tùng Dương.

Anh Quốc Khánh đã làm một bài phỏng vấn giáo sư Thụ rất hay về kết quả giám định này.

Tháng 5 năm 1994, phiên tòa sơ thẩm đã được mở tại Hà Nội để xét sử bị cáo Nguyễn Tùng Dương. Hàng vạn người dân đã tụ tập ở trụ sở tòa án Hà Nội để theo dõi phiên tòa. Tòa án đã bắc loa ra ngoài để nhân dân theo dõi phiên tòa.

Tại phiên tòa này, tòa án cho rằng chưa đủ chứng cứ buộc tội Nguyễn Tùng Dương, nên trả hồ sơ cho viện kiểm sát, yêu cầu điều tra bổ sung.

Dịp chờ đợi này lại là một cơ hội để báo chí bày tỏ sự phẫn nộ của quần chúng đối việc làm thiếu tích cực của cơ quan pháp luật Hà Nội đối với vụ án này.

Tháng 10 năm 1994, phiên tòa sơ thẩm lần hai lại được mở lại để xét xử bị cáo Nguyễn Tùng Dương. Và lần này thì bản án là “tử hình” về tội giết người.

Về tội cướp thì không đủ chứng cứ để kết luận.

Giết người thì phải có động cơ chứ. Thế nhưng tòa án Hà Nội không nói về ván đề hiển nhiên này.

Hàng vạn người dân tụ tập bên ngoài phòng xử án, tràn ra cả ngoài đường phố đã reo hò dậy đất khi nghe thẩm phán tuyên “tử hình”.

Luật sư Hùng bào chữa cho em Phương, và anh Nguyễn Văn Lát, bố em Phương khi ra khỏi phòng xử án, đã được nhân dân công kênh trên vai đưa đi một đoạn đường dài.

Đó là niềm vui của nhân dân, đó là niềm vui của công lý.

Tôi đứng lặng lẽ ở ngoài đường, quan sát người dân theo dõi phiên tòa.

Một phụ nữ già nói với tôi là bà đã từng biết nhiều phiên tòa từ thời Pháp, nhưng phiên tòa xử vụ Nguyễn Tùng Dương là phiên tòa đông người dự nhất từ trước đến nay. Một số người dân biết tôi là phóng viên báo Đại Đoàn Kết đã đến bắt tay tôi, chúc mừng báo chí đã chiến thắng.

Và tháng 3 năm 1995, Dương đã bị xử bắn tại trường bắn Cầu Ngà, Hà Nội.

Sau khi vụ án của con trai anh kết thúc, anh Nguyễn Văn Lát đã đăng ký học đại học luật Hà Nội, hệ tại chức. Và năm 1999 anh đã tốt nghiệp.

Một lần gặp anh, tôi hỏi anh học luật để làm gì. Anh trả lời:

-“ Sau vụ án con tôi, tôi thấy có rất nhiều người dân bị oan khuất. Nếu họ không hiểu luật thì họ rất khó thắng. Tôi muốn trở thành luật sư để giúp những người có cảnh ngộ oan ức như gia đình tôi đã từng bị.”

Tôi thấy ước mơ của anh thật là đẹp. Tôi chúc anh thành công. Tôi không muốn nói với anh là ở Việt Nam có nhiều vụ án dù đương sự đã hiểu luật mười mươi, nhưng đương sự vẫn thua. Nhưng tôi không muốn làm anh bị thất vọng.

Ngay sau khi vụ án cầu Chương Dương vừa kết thúc còn nóng hổi, thì ở Hà Nội lại xảy ra vụ án phường Phương Mai, mà kết quả không được như vụ án cầu Chương Dương.

Một thanh niên bị công an phường Phương Mai, quận Đống Đa bắt vào đồn, giam tại nhà tạm giam của công an phường. Sau đó người ta phát hiện người thanh niên này bị chết trong tư thế treo cổ.

Công an Hà Nội kết luận thanh niên này đã tự tử. Dây treo cổ là thắt lưng của bản thân anh thanh niên này.

Kết quả giám định pháp y sau đó đã cho thấy là vết thắt cổ rất mờ, không đủ làm nghẹt thở nạn nhân. Hơn nữa nạn nhân không treo người, mà chỉ hơi ngồi phệt, nửa đứng nửa ngồi, lưng dựa vào cánh cửa, chân chạm đất. Và quan trọng hơn cả là trên người nạn nhân có rất nhiều vết đánh, chứng tỏ nạn nhân bị đánh khi bị tạm giam. Và trong các vết đánh, có một vết ngón tay cái hằn sâu vào cổ họng nạn nhân, chứng tỏ nạn nhân bị bóp cổ trước khi bị treo lên trong tư thế “treo cổ”.

Vụ án xảy ra năm 1995, và sau đó đã được đưa ra xét xử. Viên cảnh sát trông coi nhà tạm giam chỉ bị án 4 năm tù. Còn các câu hỏi vì sao trên người nạn nhân có nhiều vết bị đánh, và vết bóp cổ, thì viên cảnh sát này và cơ quan điều tra không trả lời được.

Báo chí đưa tin về vụ này cũng không nhiều. Tôi chỉ viết 2 bài bình luận về phiên tòa xét xử vụ này cho báo Lao Động, sau đó tôi cũng không viết nữa. Vụ án công an phường Phương Mai dừng lại ở đó cho đến bây giờ, để lại nỗi uất ức cho gia đình nạn nhân.

Sau vụ án phường Phương Mai này, Bộ trưởng Bộ Nội vụ (tên cũ của Bộ công an ngày nay) Bùi Thiện Ngộ đã ra lệnh xóa bỏ tất cả các phòng tạm giam của công an phường của cả nước.

Đó là một kết quả tốt từ sau vụ án phường Phương Mai.

Nhưng có một kết cục khá kỳ lạ ở vụ án phường Phương Mai này. Viên trưởng công an phường Phương Mai, người ra lệnh bắt tạm giam người thanh niên xấu số, sau khi vụ án xảy ra, đã bị chuyển công tác lên quận Đống Đa. Coi như là một hình thức kỷ luật vì trách nhiệm để cho người bị tạm giam chết.

Viên trưởng công an phường này đã có vợ, nhưng còn có một cô người yêu trẻ. Viên trưởng công an phường đã dụ dỗ cô người yêu trẻ vay cho hắn một số tiền khá lớn, khoảng hơn 200 triệu đồng. Sau đó hắn bỏ rơi cô người yêu trẻ, để yêu người khác. Khi hắn bị kỷ luật vì vụ anh thanh niên “tự tử chết “, thì hắn cũng đang tìm cách bỏ rơi cô người yêu trẻ, để đi với cô gái khác, và cũng không trả tiền vay nợ cho cô người yêu trẻ.

Một buổi, cô người yêu trẻ tìm được hắn ở trong nhà cô người yêu mới. Hắn đã đánh cô người yêu trẻ, và cô gái này đã tặng hắn một nhát dao vào đúng tim. Hắn chết ngay.

Nhiều người nói là oan hồn của người thanh niên bị chết oan khuất trong phòng giam của công an phường Phương Mai đã nhập vào cô gái trẻ để đòi công lý, công lý mà tòa án không đem lại được.///

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

hochiminhbao.com


Recent Posts
Sài Gòn xưa


Hà Nội xưa