hochiminhbao.com
               Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai-Lời vua Lý Thái Tông
       Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc-Lời tướng Trần Hưng Đạo
        Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc thì phải đàn hặc ngay-lời vua Lê Lợi
                                  Cán bộ là công bộc của dân-Lời Hồ Chí Minh
   Việc gì lợi cho dân, thì phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh-Lời Hồ Chí Minh
                          Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam-Lời Hồ Chí Minh
                 Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân-Lời Nguyễn Trãi

Trọng dụng nhân tài của ông cha ta ngày xưa

Cách đây gần 1000 năm, vào năm 1075, nước Việt Nam ta lần đầu tiên cho mở khoa thi chọn người tài làm quan. Đó là vào thời Vua Lý Nhân Tông, mở khoa thi lấy Tiến sĩ.
Người Việt Nam đầu tiên thi đỗ Tiến sĩ là ông Lê Văn Thịnh, người tỉnh Bắc Ninh, sau được phong dần lên tới chức Thị lang Bộ Binh, tức như Thứ trưởng Bộ quốc phòng bây giờ, rồi lên đến chức Thái sư, như chức Thủ tướng bây giờ.

Từ đó, các Triều đại Phong kiến thời ông cha ta liên tục tổ chức các khoa thi chọn người tài bổ nhiệm làm quan.
Về số lượng các khóa thi, và số người đỗ trong gần 1000 năm ở nước ta là như sau:
1- Thời nhà Lý, khoảng cách các kỳ thi là 12 năm 1 kỳ thi. Tổ chức 6 khóa thi, 27 người đỗ, có 4 Trạng nguyên.
2- Thời nhà Trần, từ năm 1239, thời Vua Thần Thái Tông, 7 năm 1 kỳ thi. Có 14 khóa thi, 238 người thi đỗ, có 12 Trạng nguyên.
3- Thời nhà Hồ, có 2 khóa thi, 200 người thi đỗ, 1 Trạng nguyên.
4- Thời nhà Lê Sơ, từ đời Vua Lê Thái Tông, năm 1435, (ông Vua này sau này bị cảm gió chết, gây ra Vụ án oan Lệ Chi Viên của Cụ Nguyễn Trãi) 6 năm thi một lần. Có 28 khóa thi, 485 người thi đỗ, có 20 Trạng nguyên.
5- Thời nhà Mạc, có 22 khóa thi, 485 người thi đỗ, 18 Trạng nguyên.
6- Thời Hậu Lê, từ Vua Lê Thánh Tông, năm 1466, Vua Lê Thánh Tông cho sửa lại, định lệ 3 năm 1 kỳ thi. Lệ thi 3 năm 1 kỳ thi này được duy trì suốt 435 năm, cho đến năm 1919, khi người Pháp cho xóa bỏ các kỳ thi chữ Hán, thay bằng nền giáo dục Pháp và chữ Quốc ngữ. Có 73 khóa thi, 493 người thi đỗ, 6 Trạng nguyên.
7- Thời nhà Nguyễn, có 40 khóa thi, 588 người thi đỗ. Thời nhà Nguyễn không cho đỗ Trạng nguyên.
Tổng cộng tất cả gần 1000 năm thi cử, cha ông ta đã tổ chức được 185 khóa thi, có 2875 người thi đỗ, có nhiều người thi đỗ 2 lần, nên tổng số lượt người thi đỗ là 2096 lần, trong đó có 56 vị Trạng nguyên.
Như vậy có thể nói thi đỗ Trạng nguyên là rất khó, người thi đỗ Trạng nguyên phần lớn đều xuất chúng, thông minh, tài giỏi hơn người.
Những vị Trạng nguyên, Bảng Nhãn, Tiến sĩ nổi tiếng ở nước ta mà hầu hết nhân dân Việt Nam ta đều biết tên là:
1- Lê Văn Thịnh (không rõ năm sinh năm mất, thi đỗ khóa Tiến sĩ đầu tiên năm 1075), được làm quan đến chức Thái sư, như Thủ tướng ngày nay. Ông Lê văn Thịnh có công lớn nhất trong việc đi sứ sang Tàu, đàm phán tài giỏi, kiên quyết và mềm mỏng, nên đòi được vùng đất Cao Bằng cho Việt Nam ta, không cần phải đánh nhau. Thử so với thời Đảng ta ngày nay, đàm phán với Trung Quốc về biên giới, để mất gần một nửa Thác Bản Giốc-Cao Bằng về cho Trung Quốc, mà 1000 năm trước, cụ Lê Văn Thịnh đã đòi được về cho Việt Nam.
2- Nguyễn Hiền (1234-không rõ năm mất, thi đỗ năm 13 tuổi, năm 1247, thi đỗ cùng năm với cụ Lê Văn Hưu, 17 tuổi, và Đặng Ma La, 13 tuổi). Ông Nguyễn Hiền được làm quan đến chức Thượng thư, như Bộ trưởng bây giờ.
3- Lê Văn Hưu (1230-1322), thi đỗ năm 1247, khi 17 tuổi. Được làm quan đến chức Thượng thư Bộ Binh, như chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bây giờ. Nhưng cụ Lê Văn Hưu nổi tiếng nhất ở việc cụ là người biên soạn đầu tiên bộ sách lịch sử Đại Việt sử ký Toàn thư, biên soạn xong năm 1272, sau đó, các cụ Phan Phù Tiên, Ngô Sĩ Liên,,,thời nhà Lê viết bổ sung nữa.
4- Mạc Đĩnh Chi (1280-1350), thi đỗ năm 1304, khi 24 tuổi, làm quan đến chức Tả Bộc Xạ Đại liêu ban, như chức Thượng thư, tức Bộ trưởng bây giờ.
5- Lương Thế Vinh (1441-1496), thi đỗ năm 1463, khi 22 tuổi, làm quan đến chức Trực học sĩ, Thừa chỉ Viện Hàn Lâm, giống chức Giám đốc Viện hàn lâm ngày nay. Khi mất, ông được nhân dân làm đền thờ, được Vua Lê Thánh Tông phong là Thượng đẳng Phúc thần.
6- Ngô Sĩ Liên (không rõ năm sinh, năm mất,) thi đỗ Tiến sĩ năm 1442, (là năm Cụ Nguyễn Trãi bị chém oan) làm quan tới chức Đô Ngự sử, giống chức Viện trưởng Viện Sử học ngày nay, Lễ Bộ Hữu Thị lang, giống chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao ngày nay.
7- Nguyễn Bỉnh Khiêm, (1491-1585), thi đỗ năm 1535, khi 44 tuổi. Ông làm quan đến chức Tả thị lang Bộ Lại, như chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ ngày nay, rồi Đông các Đại học sĩ, là một trong 4 vị Tứ trụ Triều đình của thời nhà Lê, có chức vụ làm Cố vấn cho Vua, hàm cao hơn chức Thượng thư-Bộ trưởng.
8- Lê Quí Đôn, (1726-1784), thi đỗ Đình Nguyên (thấp hơn Trạng nguyên 1 bậc) năm 1743, khi 23 tuổi. Ông làm quan đến chức Hữu thị lang Bộ Công, như chức Thứ trưởng Bộ Xây dựng-Kinh tế-Công thương bây giờ.
9- Nguyễn Khuyến (1835-1909) thi đỗ Hoàng Giáp năm 1871, khi 36 tuổi, làm quan đến chức Bố chính tỉnh Quảng Ngãi, như chức Tỉnh trưởng bây giờ. Sau đó, ông chán cảnh quan trường, xin về hưu, làm thơ,,,.
Vài vị học giả thời nay thường phê phán cách học thời ngày xưa của ông cha ta, cho rằng học thi phú, chữ Hán, học Nho giáo, Đạo giáo, học Tứ thư, Ngũ kinh,,,chỉ đào tạo nên lớp quan lại làm tôi đòi cho vua chúa, không thể bằng được nội dung học của các trường đảng của ta ngày nay dạy cho cán bộ lãnh đạo.
Thời xưa, trẻ em 6, 7 tuổi bắt đầu học chữ Hán, học Tam tự kinh, Tứ tự kinh, học Ngũ ngôn,. Và nhất là học “Tiên học lễ, hậu học văn”-tức là học lễ giáo, tôn trọng người già, cha mẹ, ông bà, học cách chào hỏi, thưa gửi lễ phép,,,.
Đến 10 tuổi trở lên, trẻ em ta ngày xưa bắt đầu học Tứ thư, Ngũ kinh, học Lịch sử Trung Quốc, Lịch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng-là thời các Vua Hùng. Rồi học cách làm văn, làm thơ, làm câu đối, là các bài luận về trị nước, giữ nước bằng chữ Hán,,,.
Như vậy chỉ hơn 10 tuổi là trẻ em ta biết thông thạo một ngoại ngữ là chữ Hán.
Xã hội Việt Nam ta hơn 4000 năm không có phân chia giai cấp, không có phân biệt TRONG ĐẢNG-NGOÀI ĐẢNG.

Ai học giỏi, đạo đức, có tài, là được trọng dụng. Làng xóm, láng giềng bất kể là ai, đều yêu thương, đùm bọc lẫn nhau.
Có một thời, anh em, họ hàng, làng xóm láng giềng vốn thân nhau, nay đột nhiên bị phân hóa theo giai cấp vô sản, tư sản, người giàu, người nghèo, nông dân, công nhân, thợ thủ công, trí thức, tiểu tư sản,,,.

Người nào được xếp là nông dân, công nhân, vô sản, thì được cho là thành phần cơ bản, được nâng đỡ, được trọng dụng, được kết nạp ĐẢNG. Người nào bị coi là trí thức, là tư sản, thì bị phân biệt đối xử, không được trọng dụng, không được kết nạp ĐẢNG.
Thế là nước Việt Nam ta từ một xã hội “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”,,,trở thành một xã hội đánh nhau lộn tùng bậy, thậm chí con đấu cha, vợ đấu chồng, hàng xóm láng giềng, họ hàng, anh em, bạn bè trở thành kẻ thù giai cấp của nhau, TRONG ĐẢNG-NGOÀI ĐẢNG kèn cựa nhau, có khi coi nhau như kẻ thù, mà chẳng hiểu lý do vì sao.

Trong lịch sử gần 1000 năm thi cử, học hành của cha ông ta thời xưa, bất kể ai cũng được học, được thi, nếu đỗ thì được làm quan, chứ không có bất kỳ sự phân biệt nào theo kiểu giai cấp, ngoài đảng-trong đảng.
Mà thật ra, xã hội loài người làm gì có sự phân chia người này là tư sản, người kia là vô sản, trong đảng là người tốt, ngoài đảng là người không tốt?

Vì hôm nay anh là vô sản, nhưng ngày mai, nếu anh giỏi kinh doanh, may mắn, chịu khó, chăm chỉ, thông minh, tài giỏi, thì anh sẽ trở thành người hữu sản, giàu có.

Ngược lại, hôm nay anh giàu có, hữu sản, nhưng anh không giỏi kinh doanh, không giỏi cạnh tranh, trở nên lười biếng, nát rượu, và có thể cả không may mắn, thì ngày mai anh lại trở thành vô sản.
Hữu sản, hay vô sản đều tùy thuộc vào sự tài giỏi kinh doanh, sự chăm chỉ, vào thể chế xã hội có coi trọng nhà kinh doanh hay không, và cả sự may mắn của anh, chứ làm gì có sự khác nhau về thành phần giai cấp, về tư tưởng giai cấp, về địa vị giai cấp, về sự bóc lột và không bóc lột,,,.

Tướng Lý Thường Kiệt, tướng Trần Hưng Đạo, tướng Phạm Ngũ Lão có phải đảng viên không?

Cụ Nguyễn Trãi, cụ Lê Quí Đôn, cụ Lê Văn Hưu, cụ Ngô Sĩ Liên có phải đảng viên không?

Cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh có phải đảng viên không?

Nhạc sĩ văn Cao, nhà văn hóa Đào Duy Anh, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương Phan Anh, Bộ trưởng Bộ giáo dục Nguyễn Văn Huyên, Chủ tịch Hà Nội đầu tiên bác sĩ Trần Duy Hưng có phải đảng viên không?

Ông tỉ phú Mỹ Bill Gate có phải là kẻ bóc lột không?

Ông Chủ tịch công ty xe ô tô Toyota Nhật Bản có phải là kẻ bóc lột không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi còn sống đã có cách trọng dụng nhân tài giống như ông cha ta ngày xưa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bổ nhiệm Luật sư Phan Anh làm Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng năm 1945, sau đó làm Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Phó Chủ tịch nước, Giáo sư Nguyễn Văn Huyên làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục,,,.

Bởi vậy lấy tiêu chí vô sản hay tư sản, đảng viên hay không đảng viên, ngoài đảng hay trong đảng để bổ nhiệm cán bộ sẽ làm cản trở việc trọng dụng nhân tài, không đúng với Tư tưởng Hồ Chí Minh, và không đúng với văn hóa trọng dụng nhân tài của cha ông ta từ ngàn xưa./

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

hochiminhbao.com


Recent Posts
Sài Gòn xưa


Hà Nội xưa