hochiminhbao.com
               Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai-Lời vua Lý Thái Tông
       Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc-Lời tướng Trần Hưng Đạo
        Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc thì phải đàn hặc ngay-lời vua Lê Lợi
                                  Cán bộ là công bộc của dân-Lời Hồ Chí Minh
   Việc gì lợi cho dân, thì phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh-Lời Hồ Chí Minh
                          Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam-Lời Hồ Chí Minh
                 Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân-Lời Nguyễn Trãi

Tính nhân đạo thời nhà Trần

Đền Kiếp Bạc thờ tướng Trần Hưng Đạo

Tình hình cuối nhà Lý hết sức rối ren, loạn lạc. Các quan trung thần bị hãm hại, bọn tham quan thao túng vua và triều đình, giặc giã nổi lên khắp nơi.

Thế mà vua Lý Huệ Tông không lo gì đến tình hình đất nước, đã từ bỏ ngôi vua, đi tu ở chùa, làm ông sư, còn ngôi vua để lại cho con gái mới 7 tuổi làm nữ vua, là nữ vua Lý Chiêu Hoàng.

Thái sư Trần Thủ Độ là người có quyền lớn nhất trong triều hồi bấy giờ. Ông Trần Thủ Độ là người không biết chữ, nhưng ông có khả năng nhìn xa trông rộng, có tính quyết đoán, ông đã nhìn thấy thời thế đã thay đổi, nhà Lý cần phải được thay đổi, đất nước cần phải có một triều đình mới, mạnh mẽ để lãnh đạo đất nước.

Ông bố trí cho nữ vua Lý Chiêu Hoàng 7 tuổi kết hôn với cháu ông Trần thủ Độ là Trần Cảnh, cũng 7 tuổi. Sau đó, ông Trần Thủ Độ cho biên soạn Chiếu nhường ngôi, nội dung vua Lý Chiêu Hoàng là phận gái, còn nhỏ tuổi, không đủ sức gánh vác việc nước, nên nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh.

Nhà Trần thay thế nhà Lý một cách hòa bình, và nhà Lý kết thúc 226 năm tồn tại của mình cũng một cách hòa bình như vậy. Cậu bé Trần Cảnh lên ngôi vua năm 1225 khi 7 tuổi, đặt tên hiệu là Trần Thái Tông, bắt đầu thời kỳ thời kỳ phát triển rực rỡ của nhà Trần.

Chúng ta thử tìm hiểu một số việc làm đầy tính văn hóa, nhân từ điển hình của các vị vua Trần, và 2 vị tướng nổi tiếng Trần Thủ Độ, Trần Hưng Đạo, và nhà văn hóa nổi tiếng thời nhà Trần, cụ Chu Văn An.

1-Thái sư Trần Thủ Độ.

Ông Trần Thủ Độ quê Thái Bình, sinh năm Giáp dần 1194, mất năm Giáp tý 1264, thọ 71 tuổi. Ông là người có công lớn trong việc sáng lập nhà Trần, và có công lớn trong việc đánh bại quân Nguyên xâm lược Việt Nam ta lần thứ nhất năm 1257.

Thái sư Trần Thủ Độ nguyên là Điện tiền Chỉ huy sứ thời vua Lý Huệ Tông, và thời nữ vua Lý Chiêu Hoàng, là chức vụ chỉ huy quân cấm vệ bảo vệ Hoàng thành và Triều đình nhà vua. (Hơn 200 năm trước đó, vua Lý Công Uẩn-Lý Thái Tổ trước khi lên làm vua, sáng lập triều nhà Lý, cũng giữ chức vụ Điện tiền Chỉ huy Sứ như ông Trần Thủ Độ).

Vào cuối thời nhà Lý, giặc giã nổi lên nhiều để chống lại triều đình. Nhưng vua Lý Huệ Tông không thích làm vua, truyền ngôi lại cho con gái Lý Chiêu Hoàng mới 7 tuổi làm vua, còn mình đi tu ở chùa Chân Giáo, trong khu vực Hà Nội ngày nay. Ông Trần Thủ Độ thấy cần phải có một triều đình mới thay nhà Lý, để có đủ khả năng lãnh đạo đất nước trong tình hình loạn lạc.

 Nên ông bố trí cho cháu ruột của ông là Trần Cảnh cũng 7 tuổi kết hôn với nữ vua Lý Chiêu Hoàng cũng 7 tuổi, sau đó nữ vua Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh.

Nhà Trần nghiễm nhiên thay nhà Lý mà không cần một cuộc đảo chính đổ máu.

Trong cuộc chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ nhất năm 1257, có nhiều người lo sợ, khuyên vua Trần Thái Tông đầu hàng giặc, hoặc xin nương tựa vào nước Tống.

Nhưng Thái sư Trần Thủ Độ khảng khái nói với vua Trần:

“Đầu thần chưa rơi, xin Bệ Hạ đừng lo”.

Câu nói này có tác dụng khích lệ vua Trần rất lớn.

Thế nhưng cụ Phan Phủ Tiên viết phần chiến tranh chống quân Nguyên trong bộ ĐVSKTT đã không nói gì thêm về vai trò của tướng Trần Thủ Độ trong lần đánh quân Nguyên này. Chắc chắn tướng Trần Thủ Độ còn có nhiều vai trò trong lãnh đạo quân đội đánh quân Nguyên lần này.

Khi đó, tướng Trần Hưng Đạo chỉ huy quân đội chống giặc ở biên giới phía Bắc, nhưng quân giặc mạnh quá, tướng Trần Hưng Đạo khi đó còn trẻ, mới khoảng 30 tuổi, không thể cản được quân giặc ở biên giới. Nhưng sau đó, quân ta thắng lớn quân Nguyên ở trận Đông Bộ Đầu, gần Hà Nội ngày nay, quân Nguyên tháo chạy về nước, chỉ sau 1 tháng xâm lược Việt Nam ta. Tướng Nguyên là Ngột Lương Hợp Thai- Uriyanquadai, là một tướng giỏi,có nhiều kinh nghiệm chiến tranh, đã đánh thắng nước Đại Lí-là vùng Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay, sáp nhập vào nhà Nguyên. Thế nhưng khi đến Việt Nam, ông ta đã thua, tháo chạy về nước.

Ông Trần Thủ Độ là người không có học hành, không biết đọc, biết viết chữ Hán, nhưng ông có nhiều việc làm cũng rất văn hóa, và rất hiểu biết. Sau khi ông Thủ Độ lập chú bé Trần Cảnh lên làm vua Trần Thái Tông, có người phàn nàn với vua Trần Thái Tông là ông Trần Thủ Độ nắm quyền lấn át cả vua.

Vua Trần Thái Tông sợ quá, dẫn người đó đến chỗ ông Trần Thủ Độ, nói lại việc phàn nàn này.

Ông Trần Thủ Độ không tức giận, ngẫm nghĩ một lát, rồi nói:

“Đúng như những lời hắn nói”, rồi sai lấy tiền, lụa thưởng cho người đó.

Khi đó, vua Trần Thái Tông còn trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm quản lý đất nước, nên ông Trần Thủ Độ phải nắm quyền lực lớn “lấn át vua” để điều hành đất nước, vì lợi ích quốc gia. Nhưng ông Trần Thủ Độ không tranh luận với người phê phán ông, vì ông hiểu được rằng về bản chất, “lấn át quyền vua” là không hay, nen ông thưởng cho người đàn hặc đó.

Việc khác, bà Linh từ Quốc mẫu là vợ ông Trần Thủ Độ, có lần đi kiệu qua thềm cấm trong cung vua, nên mội người lính gác cửa ngăn lại, phải xuống kiệu đi bộ, không cho đi kiệu vào thềm cấm đó.

Bà vợ ông Thủ Độ bực mình lắm, về khóc với ông Thủ Độ, nói:

“Mụ này làm vợ ông, mà bị bọn quân hiệu khinh nhờn đến thế”.

Ông Trần Thủ Độ nghe vậy, cũng tức giận, cho gọi người lính gác ấy đến.

Người lính sợ quá, nghĩ phen này chắc sẽ bị chém đầu, nhưng anh ấy cũng thuật lại câu chuyện đúng như đã xảy ra.

Ông Trần Thủ Độ nghe xong, hiểu ra mọi nhẽ, không những hết tức giận, mà còn khen người lính biết giữ kỷ cương, phép nước. Ông nói:

Ngươi ở chức thấp mà biết giữ luật pháp, ta còn trách gì nữa”.

Rồi ông sai lấy vàng, lụa thưởng cho người lính ấy, rồi cho về.

Lại một lần khác, khi xét duyệt Sổ Hộ khẩu trong cả nước, bà vợ ông Trần Thủ Độ xin cho một người quen đồng hương làm chức câu đương, như chức trưởng Công an xã ngày nay.

Ông Trần Thủ Độ gật đầu, rồi ghi tên họ, quê quán người đó. Sau đó, ông Thủ Độ cho gọi người đó đến. Người đó mừng rỡ chạy đến quì lạy, nghĩ sẽ được ban cho chức đó.

Ông Trần Thủ Độ nói với người đó: “Ngươi vì có Công chúa xin cho được làm câu đương, không thể ví với những người câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt với người khác.”

Người đó sợ quá, xin mãi mới được tha, không dám xin làm câu đương nữa.

Có lần, vua Trần Thái Tông muốn phong chức Tể tướng cho anh trai của ông Trần Thủ Độ là An Quốc.

Ông Trần Thủ Độ trả lời:

“An Quốc anh thần, nếu cho là giỏi hơn thần, thì thần xin trí sĩ (về hưu), nếu cho thần giỏi hơn, thì không thể cử An Quốc. Nếu anh em đều làm Tể tướng cả thì việc Triều đình sẽ ra làm sao?”

Có thể nói, sự khảng khái, công bằng, và độ lượng của ông Trần Thủ Độ rất đáng để người đời sau học tập.

2-Vua Trần Thái Tông (1225-1258).

Vua sinh năm 1218, mất năm 1277, hưởng thọ 60 tuổi, làm vua 33 năm, từ khi 7 tuổi đến 40 tuổi, sau đó thôi làm vua, làm thượng hoàng 20 năm.

 Ngay sau khi lên ngôi được 2 năm, vào năm 1227, khi vua 9 tuổi, Thái sư Trần Thủ Độ gợi ý cho vua Trần Thái Tông và các quan phải nối tiếp truyền thống văn hóa thời nhà Lý, hàng năm, cứ vào ngày mồng 4 tháng 4, vua, quan phải đến đền Đồng Cổ ở hồ Tây, làm Lễ Hội Thề đền Đồng Cổ, nội dung lời thề như sau:

“Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái lời thề, thần minh giết chết”.

Năm 1251, vua Trần Thái Tông tự viết một bài minh, ban cho các hoàng tử con vua, để dạy về Trung, Hiếu, Hòa, Tốn, Ôn, Lương, Cung, Kiệm, là các giá trị đạo đức cần phải có của các vị hoàng tử.

Thời nhà Lý, năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho làm Văn Miếu. Đến năm 1253, vua Trần Thái Tông cho xây Quốc tử giám ở phía sau Văn Miếu, làm nơi dạy học cho con vua, con quan, và học trò giỏi của người dân thường. Vua cho mời các nho sĩ nổi tiếng trong nước đến làm thày giáo ở Quốc Tử Giám.

Có thể nói, Văn Miếu-Quốc tử giám là trường Đại học đầu tiên ở nước ta. Chúng ta hi vọng đến một ngày nào đó, trường Đại học Quốc Tử Giám sẽ được khôi phục lại, nối tiếp truyền thống hiếu học, và truyền thống tôn trọng nhân tài của cha ông ta.

Cũng năm 1253 đó, vua Trần Thái Tông cho lập Giảng Võ đường, ở khu vực phường Giảng Võ ngày nay, để làm nơi dạy võ cho quân lính. Chúng ta cũng hi vọng đến một ngày nào đó, Giảng Võ Đường sẽ được khôi phục lại ở khu vực phường Giảng Võ ngày nay, để làm nơi dạy võ, và dạy văn hóa Việt Nam cho các võ sinh, để nối tiếp truyền thống văn hóa của cha ông ta.

(Nhưng bây giờ, năm 2019, khu Giảng Võ Đường đã bị phá đi để xây chung cư cao cấp kiếm tiền rồi, nên nói muốn khôi phục lại Giảng Võ Đường làm nơi dạy văn hóa, dạy võ cổ truyền cho người Việt Nam, giống như chùa Thiếu Lâm Tự bên Trung Quốc đã được khôi phục lại, thì chắc là khó lắm.)

Đầu tháng 12 năm 1257, quân Nguyên do tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyanquadai) chỉ huy, xâm lược nước ta.

Vua Trần Thái Tông giao quân đội cho tướng Trần Hưng Đạo tiết chế (chỉ huy) chống giặc ở biên giới phái Bắc. Còn đích thân vua cũng tham gia chỉ quy quân đội chiến đấu.

Ngày 24 tháng 12 năm 1257 đó, vua Trần Thái Tông, cùng Thái tử ngự lâu thuyền, tiến quân đến Đông Bộ Đầu, (vùng Hà Nội, gần cầu Thăng Long ngày nay) cả phá được quân giặc. Như vậy, chỉ trong chưa đầy 1 tháng, quân Nguyên bị đánh tan, trên đường thua chạy, không dám cướp phá gì cả, nên dân ta khi đó gọi quân Nguyên là “giặc Phật”.

Năm 1258, sau khi chiến thắng quân Nguyên 1 năm, và làm vua 33 năm, khi 40 tuổi, vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho con, tự mình làm Thượng Hoàng, để dạy dỗ vua trẻ cách làm vua.

3-Vua Trần Thánh Tông. (1258-1278)

Vua Trần Thánh Tông tên khi còn nhỏ là Hoảng, sinh năm Canh Tý 1240, lên làm vua năm 1258, khi 18 tuổi.

Tuy làm vua khi còn trẻ, nhưng vua Trần Thánh Tông có vua cha là Thượng Hoàng Trần Thái Tông giúp đỡ, nên ông sớm trở thành một vị vua đảm lược, tài giỏi, và rất nhân từ, độ lượng.

Vua Trần Thánh Tông là người bình dân nổi tiếng. Năm 1268, khi làm Vua được 10 năm, vua Trần Thánh Tông nói với họ hàng, tôn thất nhà vua rằng:

“Thiên hạ là thiên hạ của Tổ tông. Người nối nghiệp của Tổ tông phải cùng hưởng phú quí với anh em trọng họ”.

Từ đó Vua xuống chiếu khi bãi triều, cùng ăn uống với anh em tôn thất. Ngày nào vào trầu vua, trời tối không về được, thì xếp gối dài, trải chăn rộng, kê gường liền ngủ cùng với nhau, để tỏ hết lòng yêu quí nhau.

Năm 1272, cụ Lê Văn Hưu vâng lệnh Vua, soạn xong bộ sách lịch sử Đại Việt Sử ký Toàn thư, là bộ sách Lịch sử có giá trị nhất trong lịch sử nước Việt Nam ta.

Cùng năm 1272, vua Trần Thánh Tông xuống chiếu tìm người tài giỏi để làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, như chức Giám đốc -Hiệu trưởng ngày nay. Năm 1274, vua Trần Thánh Tông lại xuống chiếu tìm người tài giỏi để làm thấy giáo cho Hoàng Tử sẽ nối ngôi vua.

Như vậy hai vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần đã làm được 2 công trình Văn hóa nổi tiếng, có giá trị hàng nghìn năm, đó là vua Trần Thái Tông cho làm Quốc Tử Giám, vua Trần Thánh Tông cho biên soạn bộ sách lịch sử Đại Việt Sử ký Toàn thư.

4-Vua Trần Nhân Tông. (1278-1292)

Đây là triều vua Trần 2 lần đánh thắng quân Nguyên, năm 1284-1285, và năm 1287-1988.

Lúc này, vua Trần Thánh Tông đã nhường ngôi cho con, tự mình làm Thượng hoàng, giúp đỡ vua con lãnh đạo đất nước, và chống quân Nguyên xâm lược. Sau khi thắng quân Nguyên lần thứ hai, vua Trần Nhân Tông rất nhân đạo, ra lệnh thả hết tù binh quân Nguyên về nước. 2 năm sau, năm 1287, vua Nguyên Hốt Tất Liệt (Ku blai Khan) lại sai con trai là Thoát Hoan cầm quân sang xâm lược nước ta lần thứ ba, và lại thua trận. Lần này quân Nguyên làm rất nhiều việc tàn bạo với dân ta.

Nhưng năm 1289, vua Trần Nhân Tông lại nhân đạo cho thả hết tù binh quân Nguyên về nước, trừ tướng Ô Mã Nhi quá tàn bạo, đã đào lăng mộ nhà Trần ở Nam Định, nên bị ta dùng kế đục thuyền cho chết đuối.

Khi xét bình thưởng cho người có công trong chiến đấu chống quân Nguyên, có nhiều người tâu lên rằng phải trừng phạt những người đã đầu hàng giặc.

Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, bố của vua Trần Nhân Tông, nói nộp tất cả các tấu biểu xin hàng cho ông, rồi ông sai đốt hết đi, không trừng phạt một ai cả. Đây là một việc làm nhân đạo điển hình của các vua Trần, rất đáng để cho ngàn đời sau học tập. Trên thế giới, chưa có vị vua nào tha cho những người đầu hàng giặc, như vua Trần đã làm.

Năm 1290, mất mùa, đói to, vua Trần Nhân Tông xuống chiếu cấp phát thóc công cho nhân dân, và miễn thuế cho nhân dân.

Vua Trần Nhân Tông cũng là một vị vua bình dân nổi tiếng. Khi đi du hành ra ngoài phố, vua cấm tả hữu không được thét đuổi người dân xem mặt vua.

Vua nói:

“Ngày thường thì có thị vệ, tả hữu. Khi quốc gia lâm hoạn nạn, thì chỉ có bọn chúng nó có mặt”.

Hãy thử so sánh các vị vua ở nhiều nước trên thế giới thời xưa, thường cấm người dân không được xem mặt vua, mới thấy vua Trần ở nước Việt Nam ta thật là vị vua hiền.

5-Tướng Trần Hưng Đạo.

Tướng Trần Hưng Đạo tên khi sinh ra là Trần Quốc Tuấn, sinh năm Đinh Hợi 1227, mất năm Canh tý 1300, quê ở làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Ông là con trai An Sinh Vương Trần Liễu. Ông Trần Liễu là anh ruột của vị vua Trần đầu tiên là vua Trần Thái Tông Trần Cảnh. Như vậy ông Trần Quốc Tuấn là cháu ruột, gọi vua Trần Thái Tông là chú ruột.

Tên tuổi của tướng Trần Hưng Đạo gắn liền với 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên, năm 1257-1258, 1284-1285, và năm 1287-1288. Bởi vậy chúng ta cũng thử ôn lại xem quân Nguyên là quân đội như thế nào? Từ đâu tới? Và vì sao họ xâm lược Việt Nam ta tới 3 lần?

a-Đế chế Mông Cổ.

Triều đại nhà Nguyên ở Trung Quốc bắt đầu từ đế chế Khả Hãn Mông Cổ. Vị Hoàng đế đầu tiên của đế chế Mông Cổ là Genghis Khan, đọc theo tiếng Việt là Thành Cát Tư Hãn. Ông Thành Cát tư Hãn sinh năm 1162, mất năm 1227. Năm ông Thành Cát Tư Hãn mất, là năm mà tướng Trần Hưng Đạo của Việt Nam ra đời.

Khi ông Thành Cát Tư Hãn sinh ra, vùng lãnh thổ Mông Cổ chưa có Nhà nước, mà chỉ có các bộ lạc sống du canh du cư, chăn nuôi gia súc, như ngựa, cừu, và giữa các bộ tộc luôn có chiến tranh với nhau để cướp gia súc, phụ nữ, và các vùng đồng cỏ của nhau. Thế cho nên các bộ tộc Mông Cổ thời đó luôn luôn sống trong tình trạng chiến tranh lẫn nhau, nên họ có tính cách tàn bạo, hung hãn, và rất thiện chiến, họ giỏi cưỡi ngựa, bắn cung, phóng lao, ném dây, đánh kiếm,,,.Họ có nhiều ngựa, và cưỡi ngựa giỏi, mỗi chiến binh thường có hai, ba con ngựa dự trữ đi theo, nên họ có thể di chuyển mỗi ngày hàng trăm km mà không mấy khó khăn. Cách đánh của họ là tấn công nhanh như vũ bão, thần tốc, và nếu bị thua, thì họ cũng chạy trốn nhanh như gió, chỉ trong giây lát họ đã biến mất. Nhưng sau đó, họ lại tập hợp lại, và khi kẻ địch chưa hiểu mô tê ra sao, đang ngơ ngác kẻ thù ở đâu, thì họ lại lao vào tất công như từ trên trời rơi xuống, từ mọi hướng, chia cắt kẻ địch, khiến kẻ địch không kịp trở tay. Thế cho nên trong suốt hơn 200 năm, họ đã làm mưa làm gió trên toàn thế giới, tạo nên một đế chế Mông Cổ rộng bao la, bao gồm phần lớn châu Âu, bao gồm cả nước Nga, nước Trung Quốc, và nhiều nước nước Trung Á, đến Triền Tiên, và chỉ bị dừng lại ở nước Việt Nam và Nhật Bản. Ở Nhật Bản, họ bị thua 2 lần vì bị bão, là năm 1274, và năm 1281. Ở Việt Nam họ bị thua 3 lần là năm 1257-1258, 1284-1285, và năm 1287-1288.

Khi tướng Trần Hưng Đạo sinh ra năm 1227, thì Hoàng đế Mông Cổ Genghis Khan-Thành Cát Tư Hãn qua đời (1162-1227). Con trai ông ấy là Ogodei nối nghiệp làm Khả Hãn Mông Cổ. Sau đó, cháu nội ông ấy nối nghiệp, tên là Mông Kha (Mongke), làm Khả hãn-Hoàng đế của tất cả đế chế Mông Cổ rộng lớn trên toàn thế giới. Còn em trai Mông Kha, là Hốt Tất Liệt (Kubilai Khan) làm vua xứ Nguyên, tức là nước Trung Quốc. Mông Kha đã cử tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uryangkhadai) sang xâm lược Việt Nam ta và cuối năm 1257. Tướng Ngột Lương Hợp Thai là một trong 2 viên tướng giỏi nhất của quân đội Mông Cổ dưới thời  Mông Kha và Hốt Tất liệt (viên tướng giỏi thứ hai là Bayan, người đã đánh bại nhà Nam Tống của Trung Quốc, và đặt toàn bộ nước Trung Quốc bao la dưới sự thống trị của Hốt Tất Liệt).

Chỉ sau khi vào Việt Nam được gần 1 tháng, đầu năm 1258, tướng Ngột Lương Hợp Thai bị quân đội nhà Trần đánh bại, phải bỏ chạy về Trung Quốc, dọc đường bỏ chạy không dám cướp bóc gì cả, nên người Việt Nam ta gọi là “giặc phật-Buddhist Warriors”. Cuốn sách Nguyên Sử-Lịch sử nhà Nguyên-do người Nguyên viết khoảng năm 1300, đã giải thích lý do quân Nguyên thua ở Việt Nam là do “khí hậu nóng nực”. Thế nhưng quân Nguyên xâm lược Việt Nam, cả 3 lần, đều vào cuối năm cũ, đầu năm mới, tức là mùa đông, khí hậu Việt Nam ta khi đó là lạnh, chứ đâu có “nóng nực”. Thật kỳ lạ, thế mà gần đây, nhà sử học người Anh Jonathan Clements khi viết cuốn sách “A Brief history of Kubilai Khan”, xuất bản ở London năm 2010, cũng đã nói lại điều đó, là quân Nguyên khi xâm lược Việt Nam bị “khí hậu nóng nực”.

Thế tức là nhiều nhà viết sử khi viết sử đã rất quan liêu, không kiểm tra kỹ các thông tin, hoặc là cố tình bóp méo sự thật để viết có lợi cho phía mà mình ủng hộ.

Tướng Trần Hưng Đạo là người chỉ huy quân đội Việt Nam ta 3 lần đánh thắng quân Nguyên, năm 1257, 1284, và 1287. Ông được đánh giá là một trong những vị tướng xuất sắc nhất trên thế giới, cùng với tướng Võ Nguyên Giáp của chúng ta ngày nay.

Về lần chiến thắng thứ nhất, cuối năm 1257, cuốn ĐVSKTT viết về vai trò của tướng Trần Hưng Đạo rất sơ sài, chỉ viết rằng “tháng 9 (năm 1257), (vua) xuống chiếu lệnh tả hữu tướng quân đem thủy bộ ra ngăn giữ biên giới, theo sự tiết chế của Quốc Tuấn”.

Sau đó, cuốn ĐVSKTT viết về vai trò phù tá vua Trần Thái Tông của tướng Lê Phụ Trần, và sự lãnh đạo quân đội của vua Trần Thái Tông chiến thắng quân Nguyên tại Đông Bộ Đầu-gần Hà Nội ngày nay.

Thế nhưng nếu ĐVSKTT viết rằng “tả hữu tướng quân đem thủy bộ ra ngăn giữ biên giới, theo sự tiết chế của Quốc Tuấn”, thì tức là tướng Trần Quốc Tuấn khi đó mới chỉ 30 tuổi, đã chỉ huy thống lĩnh tất cả quân đội thủy và bộ ở vùng biên giới phía Bắc, có vai trò chặn đánh quân Nguyên ở biên giới. Tướng chỉ huy của quân Nguyên là Ngột Lương Hợp Thai (Uriyanquadai) là một viên tướng giỏi, dày dạn trận mạc, đã chỉ huy quân Nguyên đánh thắng nước Đại Lí, là vùng Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông Trung Quốc ngày nay, sáp nhập nước Đại Lí vào đế quốc Nguyên Mông.

Đây là lần đầu tiên quân đội Việt Nam ta đánh nhau với đạo quân thiện chiến nhất thế giới hồi đó, nên việc tướng Trần Quốc Tuấn không chặn được quân Nguyên tại biên giới là điều đương nhiên, vì thế giặc rất mạnh, và tướng Trần Quốc Tuấn còn trẻ, mới 30 tuổi, chưa có kinh nghiệm trận mạc, và tính cách của tướng Trần Quốc Tuấn là rất thận trọng, không bao giờ phiêu lưu quân sự, để cho nướng quân, nướng tướng.

Đánh thăm dò, đánh tạo thế là cách đánh rất Việt Nam, bắt đầu từ tướng Trần Hưng Đạo năm 1257 đó.

Cho nên sau vài trận đánh nhỏ thăm dò, để cho quân giặc vào sâu trong đất ta, sau khi đã biết được khá rõ sự mạnh-yếu của quân Nguyên, quân đội Việt Nam ta đã tổng phản công tại trận Đông Bộ Đầu-phía cầu Thăng Long, Hà Nội ngày nay- và đã chiến thắng nhanh chóng. Chắc chắn trận Đông Bộ Đầu có công lớn của tướng Trần Hưng Đạo, vì ông là Tổng chỉ huy quân đội. Cụ Phan Phù Tiên viết sơ sài trong phần này là thiếu sót của cụ Phan Phù Tiên về mặt viết sử. Cuốn Nguyên Sử của nhà Nguyên viết về cuộc chiến này có phần chi tiết hơn, nói rằng một viên tướng dưới quyền Ngột Lương Hợp Thai đã không nghe lệnh chủ tướng là phải chờ thời cơ, mà đã vội vã tấn công quân Đại Việt, nên bị thua, và bị ra lệnh uống một cốc thuốc độc chết.

Về hai lần sau chiến thắng quân Nguyên gần 30 năm sau, năm 1284, và năm 1287, cuốn ĐVSKTT viết khá rõ về vai trò chỉ huy tài giỏi có tính quyết định của tướng Trần Hưng Đạo.

Bí quyết thành công của tướng Trần Hưng Đạo là biết cách đánh, dám đánh, và chỉ huy quân đội một cách NHÂN NGHĨA.

Trong lần đánh quân Nguyên lần thứ hai, tướng Trần Hưng Đạo đã viết 2 tác phẩm quan trọng để khích lệ tướng sĩ, một là bản HỊCH TƯỚNG SĨ, và hai là cuốn BINH THƯ YẾU LƯỢC.

Trong cuốn Binh Thư Yếu Lược, tướng Trần Hưng Đạo đã nói rõ về đạo làm tướng là phải biết điều nhân nghĩa:

Khí lượng của tướng lớn nhỏ khác nhau. Tướng mà ngoài mặt hăm hở, trong lòng ân cần, biết người khó nhọc, thương kẻ đói rét, đó là tướng chỉ huy vạn người. Tướng mà gần người hiền, tiến người tài, ngày thường cẩn thận, thành thực, rộng rãi, giỏi việc dẹp loạn, tướng đó chỉ huy được mười vạn người. Tướng mà dùng nhân ái đối với kẻ dưới, lấy tín nghĩa để phục nước láng giềng, trên biết thiên văn, dưới biết địa lí, giữa biết việc người, coi bốn biển như một nhà, đó là tướng chỉ huy được cả thiên hạ, không ai địch nổi”.

Cũng trong sách này, tướng Trần Hưng Đạo nói về sự HÒA MỤC-tức là không dùng bạo lực, mà dùng cách nhường nhịn, đoàn kết, thì sẽ yên được thiên hạ:

Hòa mục ở trong nước thì ít dụng binh. Hòa ở ngoài biên thì không sợ có báo động, bất đắc dĩ mới phải phạt kẻ làm xằng. Vua tôi hòa mục thì dùng được người tài. Các twonsg văn tướng võ mà hòa mục thì làm nên sự nghiệp. Tướng sĩ hòa mục khi ban thưởng thì sẽ nhường nhịn nhau, nguy nan sẽ cứu nhau. Đó, hòa mục là một đạo rất hay cho việc trị nước, hành binh, không bao giờ đổi được.”

Chính vì quan điểm Hòa Mục này, mà ngay sau khi quân Trần thắng quân Nguyên lần thứ nhất năm 1257, nhà Trần liền cử sứ giả sang gặp Khả Hãn Mông Kha, xin được thần phục, và hòa hiếu. Điều này chưa từng có trong lịch sử nhà Nguyên, người thắng trận xin được hòa hiếu và thần phục người thua trận, nên Nguyên Sử cho rằng quân Nguyên đã thắng, chứ không thua. Người Nguyên không thể hiểu được rằng bản tính Nhân Hòa của người Việt, chỉ mong muốn yên ổn, chứ không muốn chiến tranh, nên dù cho người Việt Nam có thắng, thì sau đó cũng giữ chính sách ngoại giao hòa hiếu.

Thế cho nên sau khi chiến thắng quân Nguyên lần thứ 2, thứ 3, nhà Trần lại cử sứ giả sang nhà Nguyên, xin dược hòa hiếu. Cho đến bây giờ, thế kỷ 21, nước Việt Nam vẫn giữ chính sách ngoại giao Hòa Hiếu đó với tất cả các nước.

Tướng Trần Hưng đạo nói về việc đạo làm tướng, phải THƯƠNG NGƯỜI, nghiêm cẩn, thanh liêm, công bằng:

Thương người, dốc chí làm việc thì được sự yêu mến. Nghe lời nói phải, xa kẻ dèm pha, thì người xa đến với mình. Đo tính trước sau rồi mới làm, đó là đề phòng khi có biến cố. Có tội phải răn, có công phải thưởng, mới có thể uốn nắn được người. Thông việc trước, suốt việc sau, mới có thể giáo dục được trăm họ. Rẻ sắc đẹp, trọng con người, mới được lòng dân. Bỏ lợi tư, theo lợi chung mới giữ được nước. Thanh liêm của cải, tiết kiệm tiêu dùng ít say về rượu, giữ mình theo lễ, thờ bề trên cho trung, có việc lo chung với quân chúng, lấy của địch mà không tích trữ cho mình, bắt phụ nữ địch mà không lưu dùng cho mình”.

Về đối xử với quân lính, tướng Trần Hưng Đạo nói rất rõ trong Binh Thư Yếu Lược như sau:

“Trong quân có người ốm, tướng phải thân mình đem thuốc đến cứu chữa, trong quân có người chết, tướng phải thương xót, đau buồn. Quân đi thú xa, tướng phải sai vợ con đến thăm hỏi. Phàm có khao thưởng thì phải chia đều cho quan và quân. Khi có cất đặt chức vị gì, thì phải họp cả tướng lại để bàn. Mưu đã định rồi mới đánh giặc. Cho nên quân sĩ có cái vui mổ trâu, nấu rượu, cái khí thế ném đá, vượt rào, họ yêu mến tướng như con em yêu mến cha anh, như chân tay giữ gìn đầu mắt, không ai có thể ngăn nổi họ. Nếu đối xử khắt khe làm cho họ đau khổ, bắt họ làm những công việc quá nặng nhọc thì tiếng oán thù không dứt. Tướng mà coi quân sĩ như cỏ rác, thì quân sĩ coi tướng như cừu thù. Mong cho họ sung vào hàng ngũ còn khó, huống chi mong gì họ cố gắng đánh giặc nữa. Đó là cái chước lớn của đạo làm tướng vỗ về quân sĩ vậy.”

Trong HỊCH TƯỚNG SĨ, tướng Trần Hưng Đạo viết về quan hệ giữa ông và quân sĩ như sau:

Các ngươi ở cùng ta, coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta tăng lương, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn hạ thì cùng nhau vui cười.”

Chính vì những tư tưởng thương người, nhân nghĩa đó, mà tướng Trần Hưng Đạo được toàn thể quân dân yêu mến. Dưới quyền ông có các tướng sĩ tâm phúc, tài giỏi như Yết Kiêu, Dã Tượng, Địa Lôi, Phạm Ngũ Lão,,,.

Nhà sử học người Anh Jonathan Clements trong cuốn sách “A Brief history of Khubilai Khan”, rất khen cách làm rất nhân đạo, và rất thông minh của tướng Trần Hưng Đạo, trong việc không giết tù binh Nguyên, mà thả cho về, để cho các tù binh này tự kể lại cho đồng đội việc thua trận của mình, và việc làm nhân đức của tướng Trần Hưng Đạo tha tù binh không giết, khiến cho tinh thần của quân Nguyên thêm hoảng loạn, rã đám, không muốn đánh nhau. Ngược lại, quân Nguyên khi bắt được quân ta, nhất là khi nhìn thấy chữ “Sát Thát-Death to the Mongols” được xăm trên cánh tay quân ta, thì đều giết cả. Tác giả Clements nhận xét rằng việc làm tàn bạo của quân Nguyên chỉ làm cho quân đội Việt Nam thêm quyết tâm đánh giặc, mà không hề sợ hãi.

Tính cách của tướng Trần Hưng Đạo là coi mọi việc “nhẹ nhàng như mưa rơi”, ông luôn bình tĩnh, điềm đạm, không hoảng loạn. Thế cho nên khi quân Nguyên xâm lược Việt Nam lần thứ ba, vua Trần Nhân Tông hỏi giặc đến thì làm thế nào? Tướng Trần Hưng Đạo trả lời “năm nay đánh giặc nhàn”. Trên thế giới chưa từng có vị tướng nào nói “đánh giặc nhàn”. Điều đó cho thấy bản lĩnh vững vàng, hiểu rõ thế của giặc, và lực của ta, và thể hiện một sự bình tĩnh tuyệt vời.

Khi quân Nguyên xâm lược lần thứ hai, tướng Trần Hưng Đạo chỉ đạo bỏ thành Thăng Long, thực hiện “vườn không nhà trống”. Nhưng khi quân Nguyên xâm lược lần thứ ba, tướng Trần Hưng Đạo chỉ đạo giữ thành Thăng Long, không cho quân Nguyên vào thành. Thế tức là tướng Trần Hưng Đạo rất hiểu tình thế quân Nguyên lần này rất yếu, không mạnh như lần trước, và quân đội Việt Nam lần này mạnh hơn, và có nhiều kinh nghiệm chiến đấu hơn lần trước.

Quân Nguyên rất kính sợ tướng Trần Hưng Đạo, thường chỉ gọi ông là An Nam Hưng Đạo Vương, mà không dám gọi tên Trần Hưng Đạo hay Trần Quốc Tuấn.

Gia đình ông Trần Hưng Đạo và vua Trần Thái Tông có chuyện hiềm khích, vì ông Trần Thủ Độ ép vợ của ông Trần Liễu đang có thai làm vợ vua Thần Thái Tông, vì vợ vua Trần Thái Tông là nguyên nữ vua Lý Chiêu Hoàng không có con. Khi đó, việc vua không có con là việc đại sự, liên quan đến sự mất còn của triều đình, nên ông Trần Thủ Độ phải làm việc có vẻ mất nhân nghĩa này, là ép anh trai Trần Liễu nhường vợ cho em trai Trần Cảnh, vì vợ ông Trần Liễu sinh con được, mà vợ ông Trần Cảnh chưa sinh con được. Từ đó gây mối hiềm khích giữa 2 anh em ông Trần Liễu và Trần Cảnh (tức vua Trần Thái Tông).

Vì chuyện này, mà con thứ ba vua Trần Thái Tông, là Trần Quang Khải, và tướng Trần Hưng Đạo có mối bất hòa ngấm ngầm. Như vậy anh em họ hàng có chuyện hiềm khích nhau. Nhưng cả hai ông Trần Quang Khải và Trần Quốc Tuấn đều cố gắng chủ động dẹp bỏ mối hiềm khích đó. Có lần, khi tướng Trần Quang Khải đến chơi, tướng Trần Quốc Tuấn nói:

“Mình mẩy Ngài cáu bẩn, tôi xin tắm giùm cho”, rồi cởi áo Quang Khải, dội nước thơm cho tắm.

Sau khi tắm xong, tướng Trần Hưng Đạo nói vui:

“Hôm nay tôi được tắm cho Thượng tướng”.

Tướng Trần Quang Khải cũng cười nói lớn:

“Hôm nay được Quốc công tắm dùm cho”.

Từ đó, hai tướng hết hiềm khích, đoàn kết với nhau để hợp lực chống quân Nguyên.

Trong lần chống quân Nguyên lần thứ hai năm 1284-1285, thế giặc mạnh, nhiều người cũng ngầm khuyên vua Trần Nhân Tông hàng giặc. Nhưng tướng Trần Hưng Đạo khảng khái nói với Vua:

“Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã”.

Cha ông Trần Liễu trước khi mất, có dặn ông Trần Quốc Tuấn rằng cần phải tìm cách giành được ngôi Vua.

Quyền lực của tướng Trần Hưng Đạo rất lớn. Có lần, ông Trần Hưng Đạo nói lại ý nguyện của cha ông Trần Liễu, ướm hỏi thử các tướng tâm phúc là Yết Kiêu, Dã Tượng. Hai tướng trả lời:

“Làm kế ấy chỉ phú quí được một đời, nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Đại Vương há chẳng phải đủ phú quí rồi sao?”

Tướng Trần Hưng Đạo rất vui vì thấy các tướng tâm phúc cùng chí hướng.

Nhưng khi ông hỏi ý các con, một con ông là Trần Quốc Tảng đã nói tỏ ý khinh nhờn vua, tức có ý muốn chiếm lấy ngôi vua. Ông Trần Quốc Tuấn đã tức giận, định giết chết Trần Quốc Tảng.

Trong hai lần quân Nguyên xâm lước 1284, 1287, vua Trần Thánh Tông Thượng hoàng, và vua con tại chức Trần Nhân Tông giao cho ông Trần Hưng Đạo quyền rất lớn, được chuyên quyền phong tước cho các tướng, rồi mới tâu sau. Nhưng tướng Trần Hưng Đạo không dám tự tiện phong thưởng cho bất kỳ ai cả.

Chỉ những người nhà giàu cho quân đội vay lương gạo, tướng Trần Hưng Đạo chỉ phong cho chức Giả Lương Tướng, nghĩa là Tướng cho vay lương mà thôi.

Khi tướng Trần Hưng Đạo mất, nhân dân rất thương tiếc, hàng vạn người đến đưa tiễn, giống như ngày nay, nhân dân thương tiếc tướng Võ Nguyên Giáp.

Trước khi Tướng Trần Hưng Đạo qua đời, vua Trần Anh Tông đến hỏi kế sách giữ nước, tướng Trần Hưng Đạo nói “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”. Lời nói đó của tướng Trần Hưng Đạo đến nay vẫn đúng, và vẫn đúng cho ngàn vạn năm sau.

6-Hội nghị Diên Hồng.

Thời nhà Trần, có một sự kiện cũng vô cùng đặc biệt, đó là Hội nghị Diên Hồng.

Trong lần Kháng chiến chống quân Nguyên thứ hai, năm 1284, 1285, Thượng hoàng Trần Thánh Tông, và vua con Trần Nhân Tông đã cho mời hơn 200 cụ bô lão cao tuổi trong cả nước đến điện Diên Hồng, trong Hoàng thành Thăng Long ngày nay, để hỏi ý kiến các cụ bô lão, “nên hòa, hay nên đánh””.

Hội nghị Diên Hồng diễn ra từ ngày 7 tháng 1 đến ngày 5 tháng 2 năm 1285.

Hai Vua Trần đặt tiệc ở điện Diên Hồng, chiêu đãi các vị bô lão, và hỏi ý kiến “nên hòa hay nên đánh”. Sau nhiều ngày thảo luận, cuối cùng, vào ngày mồng 5 tháng 2, tất các vị bô lão đều đồng thánh hô to “đánh”.

Có thể nói, các vị bô lão đã mang đến Hội nghị Diên Hồng ý chí của nhân dân cả nước, là với bọn giặc xâm lược, thì chỉ có một lòg quyết tâm là “đánh”, không có đầu hàng.

Và sau khi Hội Nghị Diên Hồng kết thúc, các vị bô lão cùng nhau mang tinh thần Hội nghị về truyền đạt lại cho nhân dân cả nước biết tinh thần của Hội nghị, quyết tâm của Triều đình, là “đánh”, để cổ vũ tinh thần mọi người hăng hái tham gia đánh giặc.

Liệu trên thế giới có nước nào có hội nghị các vị bô lão đại diện cho nhân dân cả nước như vậy, để hỏi ý kién đánh giặc không?

Hội nghị Diên Hồng lại một lần nữa thể hiện văn hóa tôn trọng nhân dân, tôn trọng người già, đoàn kết, yêu thương, bảo vệ lẫn nhau, là tinh thần của 100 người con đều từ một bọc trứng của Mẹ Âu Cơ sinh ra. 

Người Pháp khi tổ chức kháng chiến chống lại quân Phát-xít Đức, cũng không có Hội nghị toàn dân Pháp như Hội nghị Diên Hồng.

Người Mỹ, sau trận Trân Trâu Cảng Pearl Harbor ngày mồng 7 tháng 12 năm 1941, cũng không có Hội nghị như Hội nghị Diên Hồng hỏi ý kiến nhân dan Mỹ,  mà chỉ có Hội nghị của Quốc hội Mỹ để quyết định mở cuộc chiến tranh với Nhật.

Ngày nay, nước Việt Nam ta có lẽ cũng cần nhiều Hội Nghị Diên Hồng để hỏi ý kiến nhân dân về các quyết sách phát triển đất nước chăng?

7-Cụ Chu Văn An.

Cụ Chu Văn An là một trong những vị trí thức nổi tiếng nhất trong lịch sử 4000 năm văn hiến của nước ta, quê ở huyện Thanh Trì, Hà Nội ngày nay. Cụ sinh ra năm nào không rõ, nhưng cụ mất vào năm Canh Tuất 1370, thời vua Trần Nghệ Tông.

Sự nghiệp văn chương của cụ Chu Văn An để lại không nhiều, chỉ còn 12 bài thơ của cụ nằm rải rác ở nhiều bộ sách khác của đời sau. Những tác phẩm của cụ viết như Tứ thư thuyết ước, Tiều ẩn thi tập, Quốc ngữ thi văn thì đều đã thất lạc, không còn. Người đời sau chỉ còn biết đến tên các tác phẩm đó, chứ nội dung ra sao thì không biết. Nhưng tại sao người đời vẫn luôn luôn nhớ đến tên cụ, với lòng kính trọng sâu sắc?

Chính bởi vì cụ Chu Văn An là tác giả của bản Thất Trảm Sớ, tờ sớ xin chém 7 tên gian thần thời vua Trần Dụ Tông. Bản Thất Trảm Sớ đó ngày nay cũng không còn, người đời không biết nội dung của tờ Sớ ra sao. Nhưng người đời biết được tên của bản Thất Trảm Sớ đó, và chỉ riêng cái tên đó thôi, với nội dung xin chém 7 tên gian thần, cũng đủ để nhân dân nhớ mãi đến tên cụ Chu Văn An.

Nhà Trần trải qua 12 đời vua, từ vua đầu tiên Trần Thái Tông năm 1225, đến vua cuối cùng là Trần Thiếu Đế năm 1400. Như vậy nhà Trần kéo dài được 175 năm.

Nhà Trần nổi tiếng nhất với 3 lần chiến thắng quân Nguyên, vào năm 1257, 1284, 1287, với vị tướng lừng danh nhất lịch sử nước Việt Nam ta là Trần Hưng Đạo, cùng với các vị tướng lừng danh khác, như Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trần Quốc Toản, Trần Bình Trọng,,,và các vị vua hiền như Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông.

Sau đó vào năm 1400, nhà Trần bị Hồ Quý Ly cướp ngôi, chấm dứt 175 năm nhà Trần oanh liệt.

Cụ Chu Văn An sinh ra vào thời vua thứ 6 của nhà Trần, tức vua Trần Minh Tông, sau đó trải qua đời vua Trần Dụ Tông, và mất vào đời vua thứ 8 của nhà Trần, tức vua Trần Nghệ Tông, năm 1370.

Thời vua Trần Dụ Tông là thời kỳ bắt đầu suy sụp của nhà Trần, và cũng là khi cụ Chu Văn An dâng Sớ xin vua Trần Dụ Tông chém 7 tên gian thần, để mong cứu vãn nhà Trần.

Nhà Trần đã lập được chiến công lừng lẫy. Thế nhưng những con cháu nhà Trần, những người nối nghiệp Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo… đã dần dần phá hoại sự nghiệp cha ông để lại. Vua quan bắt đầu ăn chơi, tham nhũng, đục khoét của dân, dân thì nghèo lầm than, vua quan thì sung sướng, sa đọa.

Vua Trần Dụ Tông lúc đầu lên nối ngôi vua, cũng tỏ vẻ là vị vua hiền, nói điều hay, chăm lo cho dân. Đại việt sử ký toàn thư viết rằng vua Trần Dụ Tông lúc đầu biết “chăm lo việc võ, sửa sang việc văn, các di đều thần phục… Nhưng về sau, chơi bời quá độ, cơ nghiệp nhà Trần suy yếu từ đó”.

Cụ Chu Văn An khi đó là Tư nghiệp Quốc tử giám, tức là Hiệu trưởng Trường Đại học Quốc Tử Giám như cách nói ngày nay.

Trường Đại học Quốc Tử Giám là nơi dạy dỗ các con vua, con quan, nên chức Tư nghiệp rất có uy tín và uy thế trong triều.

Cụ Chu Văn An, cũng như các đại thần liêm khiết, tài giỏi thời đó như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh… đều cảm thấy xót xa trước cơ nghiệp lừng lẫy của nhà Trần 3 lần đánh tan quân Nguyên đang có nguy cơ ngày càng lụn bại bởi vua ham chơi, bởi bọn tham quan, nịnh thần. Nhiều người muốn lên tiếng khuyên can vua để cứu vãn cơ nghiệp ông cha để lại, một cơ nghiệp đã phải đổi bằng xương máu của biết bao nhiêu người trong 3 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xưa.

Nhưng ai cũng sợ mất ghế, sợ bị chụp mũ là phản động, chống lại triều đình. Nên không có ai dám nói gì, chỉ hèn nhát ấm ức trong lòng.

Chỉ có cụ Chu Văn An dám nói.

Cụ không sợ mất ghế, không sợ bị chụp mũ là phản động, chống lại triều đình. Cụ viết Thất Trảm Sớ, gửi lên vua Trần Dụ Tông.

Vua Trần Dụ Tông xem tờ sớ xong, rồi ỉm đi.

Tờ Thất trảm sớ đó đã thất truyền. Cho đến tận bây giờ, đã hơn 600 năm trôi qua, không ai biết nội dung cụ thể tờ Sớ khủng khiếp đó nói gì, chỉ biết rằng tờ Sớ đó xin chém những kẻ tham nhũng, nịnh thần trong triều, những kẻ sẽ làm sụp đổ cơ nghiệp đã hơn 100 năm của nhà Trần.

Tờ Sớ đó liệt tên những kẻ gian thần nào, không ai biết, nhưng nhân dân thì biết thời đó, có những tên tham quan, nịnh thần nổi tiếng như Trâu Canh, Bùi Khoan, Trần Ngô Lang… Thật ra kẻ đáng phải chém, phải lật đổ để cứu dân đen khỏi lầm than, cứu sự nghiệp của nhà Trần, chính là Trần Dụ Tông, vì ông vua này về cuối đời vô cùng ăn chơi sa đọa.

Vua Trần Dụ Tông đã ỉm tờ Sớ đi, và im lặng, không trả lời gì cụ Chu Văn An, vốn là thầy giáo của nhiều vị vua nhà Trần.

“Ông không thèm chơi với chúng mày nữa”, cụ Chu Văn An khảng khái tuyên bố, và cụ treo mũ, từ quan, trả lại chức Tế tửu đầy quyền lực, bổng lộc.

Cụ về núi Chí Linh, Hải Dương, làm nhà giữa hai ngọn núi Kỳ Lân và Phượng Hoàng để ở ẩn.

Thời đó cách đây hơn 600 năm, vẫn còn nhiều “lễ, nghĩa, trí, tín”, nên vua Trần Dụ Tông mặc dù là ông vua chơi bời, sa đọa, nhưng không chụp mũ cho cụ Chu Văn An là bất mãn, làm loạn, chống lại triều đình.

Có lần vua còn định mời cụ ra làm quan lại. Vợ vua cũng là người biết lẽ cương thường, nên đã khuyên vua: “Ông ấy là người không thể bắt làm tôi được, ta sai bảo thế nào được ông ấy”.

Thỉnh thoảng vua Trần Dụ Tông còn về núi Chí Linh thăm cụ Chu Văn An. Các học trò của cụ như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát làm Hành khiển, giống như Bộ trưởng bây giờ, vẫn hàng năm lặn lội về thăm cụ, khi nói chuyện vẫn giữ đạo thầy trò, quỳ nghe cụ răn dạy.

Ngày nay nước ta có được những người trí thức nổi tiếng và dũng cảm như cụ Chu Văn An không?

Có đấy.

Thời Pháp có những trí thức nổi tiếng như cụ Phạm Quỳnh. Cụ Phạm Quỳnh sinh năm 1892, mất năm 1945, nguyên là Đổng lý Văn phòng nội các của vua Bảo Đại, chức vụ như Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ngày nay, nhưng có quyền lực chỉ sau vua, chứ không làm nhiệm vụ văn phòng thuần túy như ngày nay.

Cụ Phạm Quỳnh chủ trương phải giành độc lập bằng đấu tranh bất bạo động, và không chủ trương chống Pháp, mà chủ trương dựa vào Pháp để chấn hưng đất nước. Ý kiến của cụ Phạm Quỳnh không khác ý kiến của cụ Phan Chu Trinh bao nhiêu, đó là phải thấy được cái yếu của dân tộc Việt ta, phong kiến, lạc hậu, nên cần tranh thủ được kỹ nghệ, văn hóa, văn minh Pháp để chấn hưng đất nước.

Cụ Phạm Quỳnh là thân sinh của 2 trí thức nổi tiếng là cố giáo sư –bác sĩ Phạm Khuê, nguyên Viện trưởng Viện Lão Khoa, và nhạc sĩ Phạm Tuyên, nguyên Viện trưởng Viện âm nhạc Việt Nam. Cháu nội cụ Phạm Quỳnh là giáo sư Đặng Vũ Minh, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam.

Ý kiến giành độc lập một cách hòa bình của cụ Phạm Quỳnh bị một số người có tinh thần dân tộc chủ nghĩa cực đoan cho là ôm chân Pháp, phản bội Tổ Quốc, nên sau ngày Cách mạng tháng 8 thành công, cụ bị du kích ở Huế bắt ngày 23 tháng 8 năm 1945, và bị giết chết sau đó mấy ngày.

Cụ Phan Chu Trinh, (1872-1926), là một trí thức nổi tiếng thời nước ta thuộc Pháp. Cụ Phan Chu Trinh đã thi đỗ Phó Bảng, đồng khóa với bố Bác Hồ là cụ Nguyễn Sinh Sắc. Cụ Phan Chu Trinh sáng lập ra phong trào Duy Tân, Khẩu hiệu của phong trào Duy Tân lúc bấy giờ là: Chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh.

Phương thức hoạt động của phong trào là bất bạo động, công khai hoạt động nhằm khai hóa dân tộc, cải cách trên mọi lãnh vực, khuyến khích giáo dục bỏ lối học từ chương, phát động phong trào học Quốc ngữ, mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công nghệ, bỏ mê tín dị đoan, kêu gọi cắt tóc ngắn, cắt ngắn móng tay,…

Nếu ngày nay, nước ta có nhiều trí thức dũng cảm như cụ Chu Văn An, Phạm Quỳnh, Phan Chu Trinh,,, thì dân tộc Việt Nam sẽ còn tiến nhanh hơn nữa.///

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

hochiminhbao.com


Recent Posts
Sài Gòn xưa


Hà Nội xưa