hochiminhbao.com
               Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai-Lời vua Lý Thái Tông
       Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc-Lời tướng Trần Hưng Đạo
        Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc thì phải đàn hặc ngay-lời vua Lê Lợi
                                  Cán bộ là công bộc của dân-Lời Hồ Chí Minh
   Việc gì lợi cho dân, thì phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh-Lời Hồ Chí Minh
                          Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam-Lời Hồ Chí Minh
                 Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân-Lời Nguyễn Trãi

Tính nhân đạo thời nhà Lý

Nước Việt Nam ta bị người Tàu đô hộ hơn 1000 năm, từ năm 207 trước Công nguyên, khi Triệu Đà dùng kế gian cho con trai Trọng Thủy kết hôn với con gái vua An Dương Vương là Mỵ Châu, để đánh cắp nỏ thần của vua An Dương Vương, sau đó Triệu Đà đánh bại vua An Dương Vương, mở đầu thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc. Mãi đến năm 938, vua Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, nước Việt Nam ta mới giành được độc lập.

Sau đó, nước Việt Nam ta bị Loạn 12 Sứ quân, 12 Sứ quân tranh giành quyền lực với các con ông Ngô Quyền. Cuối cùng ông Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong Loạn 12 Sứ quân, lên làm vua, đặt tên hiệu là Đinh Tiên Hoàng. Nhưng rồi hai cha con ông Đinh Tiên Hoàng bị tên người hầu dùng thuốc độc giết chết. Người Tàu nhân lúc đó, nghĩ là nước ta bị suy yếu, nên lại cho quân sang xâm lược. Ông Lê Hoàn, tướng của ông Đinh Tiên Hoàng, đã được vợ ông Đinh Tiên Hoàng là Thái hậu Dương Vân Nga và quần thần suy tôn lên làm vua, để đánh lại quân Tàu. Ông Lê Hoàn đánh bại quân Tàu, lên làm vua, đặt tên hiệu là Lê Đại Hành.

Nhưng con ông Lê Đại Hành là Lê Ngọa Triều làm điều bạo ngược, nên sau khi ông Lê Ngọa Triều chết, quần thần suy tôn tướng Lý Công Uẩn lên làm vua, mở đầu triều đại nhà Lý thịnh vượng, kéo dài 226 năm, từ năm 1009, đến năm 1225.

Trong hơn 1000 năm Phong kiến, trải qua 6 triều đại phong kiến (Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn Huệ, Nguyễn Gia Long), 3 triều đại Phong kiến thịnh trị nhất là Lý, Trần, Lê, đều có tính điển hình, là tính Nhân đạo.

Về tính nhân đạo của nhà Lý, chúng ta hãy xem các việc làm nhân đạo của các vị vua, quan hiền nhà Lý.

1-Vua Lý Công Uẩn, tức Lý Thái Tổ.

Vua Lý Công Uẩn quê ở làng Cổ Pháp, tỉnh Bắc Giang, sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất 974, tức ngày 8 tháng 3 năm 974. Mẹ ông là bà họ Phạm, nuôi ông đến năm 3 tuổi, thì bà mẹ cho ông vào chùa, làm con nuôi sư Lý Khánh Vân. Cha ông là ai, chúng ta không biết, không có tài liệu nào ghi lại.

Thời nhà Lý, các nhà sư là các nhà trí thức, được học hành đầy đủ, và được trọng dụng. Ông Lý Công Uẩn được nhà sư Lý Khánh Vân nuôi dạy, dạy cả văn lẫn võ. Khi Lê Đại Hành làm vua, ông Lý Công Uẩn vào làm quan, và được phong đến chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ, giống như chức vụ Tổng tư lệnh quân đội và an ninh ngày nay.Năm 1009, vua Lê Ngọa Triều chết, triều thần tôn ông Lý Công Uẩn lên làm vua, khi ông mới 35 tuổi. Ông Lý Công Uẩn lên ngôi vua năm 1009, lấy tên hiệu là Lý Thái Tổ, cho dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình về Thăng Long-Hà Nội ngày nay- vào năm 1010, ở ngôi 19 năm, từ năm 1009, đến năm 1028.

Theo Đại Việt sử ký Toàn thư, ngay năm 1010 đó, vua Lý Thái Tổ cho “đại xá các thuế khóa cho thiên hạ trong 3 năm, những người mồ côi, góa chồng, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều tha cho cả”.

“Cấp quần áo, lương thực, thuốc men cho 28 người lính Man bị Lê Ngọa Triều bắt, sai người đưa về quê cũ. Tha cho người ở vùng Nam Giới, huyện Thạch Hà thuộc châu Hoan được trở về bản huyện.”

Lý Thái Tổ là vị vua đầu tiên ở nước ta đại xá thuế khóa cho dân, và cũng  là vị vua đầu tiên cho thái tử con vua tên là Lý Phật Mã ra ở ngoài thành, sống chung với quần chúng nhân dân, “để hiểu biết mọi việc của dân”. Sau này, thái tử Phật Mã lên làm vua, cũng trở thành một vị vua hiền nổi tiếng.

Năm 1016, được mùa to, vua Lý Thái Tổ lại miễn tô, thuế cho dân 3 năm nữa.

Năm 1018 lại xá một nửa tô ruộng cho thiên hạ.

Như vậy trong đời làm vua 19 năm, vua Lý Thái Tổ đã miễn giảm thuế cho dân tới 3 lần.

2-Vua Lý Thái Tông Phật Mã, con vua Lý Thái Tổ, ở ngôi 27 năm, từ năm 1028 đến năm 1054.

Khi vua Lý Thái Tổ mất, 3 Hoàng tử mang quân đến đánh, tranh ngôi vua của hoàng tử Lý Phật Mã. Tướng Lê Phụng Hiểu bảo vệ hoàng tử Phật Mã, giết chết 1 hoàng tử nổi loạn. Còn lại 2 hoàng tử kia biết hối lỗi, vua Lý Thái Tông Phật Mã nhân từ tha cho cả, không giết tội nổi loạn, phong tước lại như cũ.

Vua Lý Thái Tông cũng cho xây đền Đồng Cổ ở Hồ Tây, lấy ngày mồng 4 tháng 4 Âm lịch hàng năm để làm Lễ thề đền Đồng Cổ. Hàng năm, vào ngày mồng 4 tháng 4, vua, quan đến đền Đồng Cổ, làm Lễ thề, lời thề như sau:

Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết”.

Tôi hi vọng một ngày nào đó, các nhà lãnh đạo ở nước Việt Nam ta cũng sẽ khôi phục lại Lễ hội Đền Đồng Cổ này, nối tiếp truyền thống vua Lý Thái Tông, hàng năm, vào ngày mồng 4 tháng 4, các vị lãnh đạo, các bộ trưởng, đến làm Lễ thề đền Đồng Cổ, nội dung lời thề ví dụ có thể như sau:

“Làm con bất hiếu, làm cán bộ Nhà nước bất nhân, tham nhũng, khinh dân, xin thần minh trừng phạt”, thì hay biết mấy.

1 năm sau khi lên làm ngôi, vào năm 1029, vua Lý Thái Tông cho xây điện Quảng Vũ, “hai bên tả hữu thềm rồng đặt lầu chuông đối nhau, để dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông kêu lên”.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, có vị vua cho làm Chuông kêu oan, để giúp dân giải quyết các nỗi oan khuất của dân. Vua trực tiếp nghe và giải quyết các nỗi oan khuất của dân.

Đến năm 1040, vua Lý Thái Tông lại xuống chiếu giao việc xử kiện cho hoàng tử sẽ nối ngôi vua: “từ nay trở đi, phàm nhân dân trong nước ai có việc kiện tụng gì, đều giao cho Khai Hoàng Vương xử đoán rồi tâu lên, lại cho lấy diện Quảng Vũ làm nơi Vương xử kiện.”

Cũng thật kỳ lạ, cụ Ngô Sĩ Liên lại có lời bình kỳ quặc rằng “Thái Tông sai Khai Hoàng Vương làm việc đó không phải là chức phận của Thái tử, lại lấy điện Quảng Vũ làm nơi Vương xử kiện là không đúng chỗ”.

Cụ Ngô Sĩ Liên có lẽ chưa từng gặp nỗi oan nào trong đời cụ, và cụ Liên cũng có lẽ chưa từng gặp người dân có nỗi oan nào, chưa từng thấu hiểu nỗi thống khổ của người dân có oan khuất, nên cụ Ngô Sĩ Liên mới có nhận xét rất quan liêu như vậy.

Năm 1052, vua Lý Thái Tông lại cho đúc Chuông kêu oan, để ở điện Long Trì, “cho dân ai có oan ức gì không bày tỏ được thì đánh chuông ấy để tâu lên”.

Năm 1042, vua Lý Thái Tông cho làm bộ luật Hình Thư, để cải thiện việc giải quyết đơn thư khiếu kiện của dân, giảm bớt việc xử lý oan sai cho dân. Vua Lý Thái Tông cũng cho phép người già trên 70 tuổi, người trẻ dưới 15 tuổi nếu phạm tội nhẹ, thì được chuộc bằng tiền để tự sửa.

Năm 1044, người Chiêm Thành vào cướp bóc nước ta, vua Lý Thái Tông dẫn quân đi đánh Chiêm Thành, ra lệnh “Kẻ nào giết bậy người Chiêm Thành, thì sẽ giết không tha”. Cùng năm 1044 đó, vua Lý Thái Tông ra mệnh lệnh trừng trị kẻ tham nhũng: “Xuống chiếu cho Quyến Khố Ty (Ty coi việc kho vải, lụa) ai nhận riêng một thước lụa của người thì bị xử đánh 100 trượng, từ 1 đến 10 tấm lụa thì xử phạt số trượng đánh nhân lên theo số tấm, gia thêm 10 năm khổ sai”.

Đây là đạo luật đầu tiên ở nước ta xử tội tham nhũng, và xử phạt rất nghiêm minh.

Cũng năm 1044 đó, vua Lý Thái Tông cũng ra chiếu xử lý quan coi ngục làm sai: “Cấm quan coi ngục không được sai tù làm việc riêng, ai phạm thì xử đánh 80 trượng, thích chữ vào mặt, và giam vào lao”.

Năm 1048, vua Lý Thái Tông cho lập Đàn Xã Tắc, (ở khu vực phường Xã Đàn-Hà Nội ngày nay), để 4 mùa làm cầu đảo xin thần thánh phù hộ cho mùa màng của dân được tươi tốt, không bị thất bát. Vua Lý Thái Tông nói rõ quan điểm vì dân như sau: “Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai?”.

Năm 1049, Vua Lý Thái Tông cho dựng chùa Diên Hựu (chùa Một Cột ngày nay), để lại một công trình kiến trúc văn hóa có giá trị vô cùng to lớn cho dân tộc Việt Nam ta đến tận ngày nay, và còn cho ngàn năm sau.

3-Vua Lý Thánh Tông.

Vua Lý Thánh Tông tên húy là Nhật Tôn, là con của vua Lý Thái Tông Phật Mã, lên ngôi vua năm 33 tuổi, khi vua cha Lý Phật Mã băng hà năm 1054, ở ngôi đến năm 1072.

Chỉ một năm sau khi lên ngôi vua, vào năm 1055, vua Lý Thánh Tông đã quan tâm thương xót đến những người tù bị giam trong ngục. Mùa đông năm đó rét mướt, vua bảo với tả hữu rằng:

 “Trẫm ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, Trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu, cấp cơm ăn ngày hai bữa.”

Vua Lý Thánh Tông cũng xuống chiếu trừng phạt những quan coi ngục nhận tiền đút lót của dân, vua cũng lệnh cấp thêm tiền bổng và thức ăn cho quan coi ngục để bảo đảm giữ gìn liêm chính. Vua xuống chiếu khuyến khích nông dân làm nông nghiệp, khi có năm đại hạn, mất mùa, vua ra lệnh chẩn cấp cho người nghèo,,,.

Vua Lý Thánh Tông đã nối nghiệp được với vua ông Lý Thái Tổ, và vua cha Lý Thái Tông trong thực hiện các việc làm nhân đạo với dân.

Năm 1059, vua Lý Thánh Tông “cử binh sang đánh đất Khâm châu nước Tống (vùng Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay), để khoe binh, rồi về, vì ghét nhà Tống phản phúc.”

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, quân đội Việt Nam ta chủ động tấn công sang Trung Quốc để trừng phạt sự phản phúc của người Hán.

Người Hán không thể hiểu được rằng vì sao dân tộc Việt Nam nhỏ bé, bị nhà Hán cai trị trên 1000 năm, mà nay, dám đưa quân sang đất Thiên triều, trừng phạt sự phản phúc của Thiên triều. Một năm sau, năm 1060, vua Lý Thánh Tông lại cử binh sang đất Tống, để lùng bắt những người lính Việt bỏ trốn vào đất Tống, mà thật ra do người Tống ngầm khuyến khích để phá ta. Quân ta bắt giam Chỉ huy sứ người Tống đưa về Việt Nam để trừng phạt tội cưu mang người lính Việt bỏ trốn.

Tháng 7 năm đó, quân Tống sang xâm lược Việt Nam ta, để định giải cứu cho Chỉ huy sứ bị bắt, nhưng quân Tống bị thua, phải bỏ chạy. Vua Lý Thánh Tông đã có công chúa Thượng Dương là vợ chính, nhưng không có con trai. Nên năm Quí Mão 1063, vua lấy Ỷ Lan là con gái nông dân làm Hoàng hậu. (Sau này bà Ỷ Lan vì ghen ghét quyền lực, đã dèm pha với con bà là vua Lý Nhân Tông Càn Đức, cho giết bà vợ cả của chồng mình là công chúa Thượng Dương. Đây là việc làm tàn bạo đầu tiên trong lịch sử Việt Nam ta).

Năm 1064, vua Lý Thánh Tông chỉ vào công chúa Động Thiên con gái mình, nói với tả hữu rằng:

“Ta yêu con ta cũng như lòng ta làm cha mẹ dân. Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, trẫm rất thương xót. Từ nay về sau, không cứ tội gì nặng hay nhẹ, đều nhất luật khoan giảm”.

Mùa thu tháng 8 năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, bốn mùa cúng tế, và cho Hoàng thái tử mà sau này sẽ  lên làm vua đến đấy học.

Ở đây, chúng ta lại thấy một điều vô cùng đặc biệt của tính cách người Việt Nam ta. Người Việt Nam ta vừa thoát khỏi sự thống trị hà khắc hơn 1000 năm của người Hán, thế mà nay, chỉ hơn 100 năm sau khi giành được độc lập, người Việt Nam ta làm Văn Miếu để thờ các bậc học giả người Hán. Chúng ta không hề thấy có lòng hận thù ở đây. Người Việt Nam ta lại tha thứ cho kẻ thù của mình, giống như câu chuyện Mị Châu-Trọng Thủy ở trên.

Sau khi vua Lý Thánh Tông lập Văn Miếu năm 1070, đến năm 1076, vua con Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám, ngay bên cạnh Văn Miếu, làm trường đại học đầu tiên của Việt Nam.

Đây là trường học đầu tiên ở Việt Nam ta dạy cho các vị vua tương lai về phép trị nước. Đến đời nhà Trần, vua Trần Thái Tông cho đổi tên Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện, để nhận cả con thường dân học giỏi vào để đào tạo làm quan.

Cho đến nay, đã gần 1000 năm trôi qua, nước Việt Nam lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh với người Trung Quốc, nhưng mặc dù vậy, Văn Miếu vẫn là nơi được gìn giữ để thờ Khổng Tử, và thờ thêm cụ Chu Văn An, là một bậc trí thức lớn của người Việt Nam ta. Không hề có chuyện vì sự hiềm khích, chiến tranh, xung đột giữa hai dân tộc, mà người Việt Nam đem vứt bỏ cụ Khổng Tử ra ngoài.

Chúng ta hi vọng đến một ngày nào đó, trường đại học Văn Miếu-Quốc Tử Giám sẽ được khôi phục lại, để làm trường chuyên đào tạo các nhà quản lý Nhà nước cho đất nước.

 4-Vua Lý Nhân Tông Càn Đức, con hoàng hậu Ỷ Lan.

Vua Lý Nhân Tông Càn Đức nối ngôi vua khi 7 tuổi, sau khi vua cha Lý Thánh Tông Nhật Tôn băng hà năm 1072. Vua Lý Nhân Tông ở ngôi 56 năm, thọ 63 tuổi.

Đây là triều vua có tướng Lý Thường Kiệt đã đánh thắng quân Tống trên sông Như Nguyệt-sông Cầu ngày nay, và là triều vua cho tiến hành các khóa thi Tiến sĩ đầu tiên, để chọn người tài bổ nhiệm làm quan.

3 năm sau khi làm lên ngôi, khi vua Lý Nhân Tông 10 tuổi, năm 1075, vua cho mở khóa thi Minh kinh Bác học, và thi Nho học tam trường, để chọn người tài vào làm quan. Ở đây chắc chắn có sự tham mưu của tướng Lý Thường Kiệt, và Lý Đạo Thành về việc mở khóa thi chọn người tài này. Người thi đỗ trạng nguyên đầu tiên ở nước Việt Nam ta là ông Lê Văn Thịnh, quê ở tỉnh Bắc Ninh ngày nay, thi đỗ năm 1075, được cử làm thày giáo dạy học cho vua, và sau đó được phong làm Thị lang Bộ binh, tương đương chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày nay.

Năm 1075, nhà Tống chuẩn bị quân đội sang xâm lược nước ta, lý do là có nhiều tâu báo lên vua Tống, là nước Đại Việt ta bị Chiêm Thành quấy nhiễu, nên trong nước bị loạn lạc, suy yếu, quân binh chỉ còn một ít, có thể xâm chiếm được.

Vua Tống sai các vùng ven biên giới Đại Việt ta chuẩn bị quân đội, kho lương, vũ khí, tập trận, để chuẩn bị xâm lược nước ta. Vua Lý Nhân Tông biết tin ấy, sai tướng Lý Thường Kiệt và tướng Tôn Đản đưa binh sang đất nhà Tống chủ động tấn công trước, đánh phá 2 châu Ung, Liêm (tức Quảng Đông, Quảng Tây, Nam Ninh ngày nay), phá tan các căn cứ hậu cần của quân Tống.

Lần tấn công năm 1075của Việt Nam vào đất Tống có qui mô rất lớn, 2 tướng Lý Thường Kiệt và Tôn Đản dẫn tới 10 vạn binh sang đánh Tống.

Quân Tống chống cự quyết liệt, không chịu đầu hàng, nên bị quân của 2 tướng Lý Thường Kiệt, Tôn Đản tiêu diệt rất nhiều, sử Việt Nam và Trung Quốc nói có trên 10 vạn quân Tống bị tiêu diệt trong chiến dịch tấn công kéo dài nhiều tháng này.

Điều đó cho thấy mức độ quyết tâm của quân Tống trong âm mưu xâm lược Việt Nam ta, và cũng cho thấy sự tài giỏi, ngoan cường, và quyết liệt của 2 tướng Lý Thường Kiệt, Tôn Đản trong việc muốn đập tan âm mưu xâm lược của nhà Tống.

1 năm sau, năm 1076, quân Tống lại sang xâm lược nước ta.

Quân đội của tướng Lý Thường Kiệt đánh tan quân Tống ở phòng tuyến sông Như Nguyệt, quân Tống lui quân, nhưng chiếm lấy châu Quảng Nguyên của ta (tức đất Cao Bằng ngày nay).

Năm 1078, vua Lý Nhân Tông sai quan Đào Tông Nguyên đi sứ sang Tống để đàm phán đòi lại đất Quảng Nguyên-Cao Bằng. Nhà Tống phải trao trả một phần Quảng Nguyên cho ta.

Sau đó, vua Lý Nhân Tông lại cử Lê Văn Thịnh sang sứ nhà Tống, để đàm phán việc biên giới, và đòi lại các đất của 6 huyện, 3 động còn lại thuộc đất Cao Bằng, nhà Tống đành phải trao trả nốt cho ta.

Người Tống đau xót việc này lắm, nên làm thơ than rằng:

“Nhâm tham Giao Chỉ tượng,

Khước thất Quảng Nguyên kim”

 “Vì tham voi Giao Chỉ,

Nên mất vàng Quảng Nguyên”

Thật ra không phải vì Việt Nam ta biếu voi cho nhà Tống, mà nhà Tống trả lại đất Cao Bằng cho Việt Nam ta. Mà là người Việt Nam ta đã đánh thắng quân Tống nhiều lần, nên nhà Tống sợ, đành ngậm ngùi trả lại đất cho ta.

Năm 1076, sau khi thắng quân Tống ở sông Như Nguyệt, vua Lý Nhân Tông xuống chiếu “cầu lời nói thẳng”, và “cất nhắc những người hiền lương có tài văn võ cho quản quân dân”.

Đây là lần đầu tiên vua Việt Nam ta có chính sách công khai “cầu lời nói thẳng”, để vua có thể sửa chữa được các sai lầm của mình.

Năm 1095, vua Lý Nhân Tông cho “Thả tù, giảm hoặc miễn các khoản tang thuế”. Năm 1106, vua Lý Nhân Tông cho “đại xá thiên hạ”.

5-Vua Lý Thần Tông.

Năm 1128, vua Lý Thần Tông lên ngôi, khi mới 12 tuổi. Ngay trong năm đó, vua Lý Thần Tông đã xuống chiếu rằng “Phàm dân có ruộng đất bị sung công, cùng là bị tội phải làm điền nhi, thì đều được tha cả. Các đạo tang và dân phải làm lộ ông-đồ dịch-cũng được miễn”.

Cũng năm đó, vua Lý Thần Tông lại “Xuống chiếu tha cho các tội nhân ở phủ Đô Hộ. Ngày Nhâm Tuất, xuống chiếu tha cho 130 người bị biếm truất”.

Cũng năm đó, vua Lý Thần Tông nói với các quan như sau: “Trẫm còn trẻ thơ, nối nghiệp lớn của tiên thánh, mà thiên hạ yên tĩnh, trong cõi sợ uy, đều là nhờ sức của các khanh. Các khanh nên cẩn thận giữ chức, chớ có lười biếng qua quít, để giúp cho trẫm những chỗ còn thiếu sót”.

Nhà Lý làm nhiều điều nhân nghĩa, chiến thắng quân Tống, có 3 vị tướng giỏi là Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, và Lý Đạo Thành. Thế nhưng nhà Lý chỉ kéo dài được 8 đời, 226 năm, vì sau đời vua Lý Thần Tông nêu trên, thì 2 vị vua sau dốt nát, nhu nhược, tin dùng kẻ nịnh thần, giết oan người giỏi, nên bị mất chính quyền vào tay nhà Trần.

6-Tướng Lý thường Kiệt.

Bộ sách ĐVSKTT của cụ Lê Văn Hưu, và Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim không viết nhiều lắm đến công đức của tướng Lý Thường Kiệt trong việc quản lý, lãnh đạo nhân dân trong thời bình, mà chủ yếu nói đến việc tấn công vào đất Tống năm 1075, và chống quân Tống ở phòng tuyến sông Như Nguyệt-sông Cầu năm 1076.

Tướng Lý Thường Kiệt nguyên tên là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt, sau được ban theo họ vua, nên có tên Lý Thường Kiệt. Ông sinh năm 1019, mất năm 1105, thọ 86 tuổi, quê ở làng Thái Hòa, Thăng Long, Hà Nội ngày nay.

Ông có tài văn võ, năm 23 tuổi được bổ làm Hoàng Môn Chi Hậu, rồi phong dần lên đến chức Thái úy.

Năm 1075, tướng Lý Thường Kiệt cùng tướng Tôn Đản dẫn 10 vạn quân sang đất Tống, phá tan các cơ sở hậu cần mà nhà Tống đang chuẩn bị để xâm lược Việt Nam ta. Sau đó, năm 1076, khi quân Tống sang xâm lược Việt Nam ta, tướng Lý Thường Kiệt đã đánh thắng quân Tống tại phòng tuyến sông Như Nguyệt-sông Cầu ngày nay.

Trong trận đánh quân Tống ở phòng tuyến sông Như Nguyệt năm 1076, tướng Lý Thường Kiệt viết Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt Nam ta, giả làm thần thánh đọc cho binh sĩ nghe, để khích lệ tinh thần binh sĩ:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư,

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan hủ bại hư.”

“Sông núi nước nam Vua Nam ở,

Rành rành định phận ở Sách trời,

Cớ sao nghịch lỗ sang xâm phạm,

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”.

Tướng Lý Thường Kiệt và quân dân Việt Nam ta khi đó đã thực hiện đúng tinh thần của bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên này, đã đánh cho quân Tống “tơi bời”, quân Tống đã phải lui quân về nước Tống.

Gần đây, các nhà khoa học sử Việt Nam ta đã phát hiện ra bia chùa Linh Xứng, tỉnh Thanh Hóa, có ghi lại khá đầy đủ công đức của tướng Lý Thường Kiệt khi ông được bổ làm quan trấn thủ xứ Thanh-Nghệ từ năm 1082, khi ông đã 63 tuổi, đến năm 1101, khi ông 82 tuổi.

Bia chùa Linh Xứng, thuộc làng Ngọ Xá, xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Bia này cao 110 cm, rộng 70 cm, trên trán bia khắc lối chữ Triện, ghi rõ Ngưỡng Sơn Linh Xứng Tự Bi Minh. Hai mặt bia khắc lối chữ Chân, nói về gia thế, và công đức của tướng Lý Thường Kiệt. Các chữ trên bia này cho biết bia được dựng ngày mồng 2 tháng 3 năm Bính Ngọ 1126, tức là sau khi tướng Lý Thường Kiệt qua đời được 21 năm (Tướng Lý Thường Kiệt sinh năm 1019, mất năm 1105, tại làng Thái Hòa, Thăng Long, Hà Nội ngày nay). Các chữ ở bia chùa Linh Xứng nói rõ người viết bia là nhà sư Thích Tháp Bảo, hiệu là Hải Chiếu Đại Sư. Người viết chữ Hán lên đá của bia là Lý Doãn Tử. Người khắc chữ lên bia là nhà sư Tăng Huệ Thống Thường Trung.

Người Việt Nam ta thời xưa có một văn hóa rất hay, là nếu đúc tượng, xây chùa, xây đền, thì thường làm bia đá ghi rõ tượng đó là ai, công đức với dân thế nào, và ghi cả ai là người đúc tượng, ai là người khắc bia, ai là người viết bia,,,.

Bia chùa Linh Xứng dựng trên một con rùa đá tạo tác rất đẹp. Toàn bộ nội dung bia là nói về thân thế, gia đình, và công lao của tướng Lý Thường Kiệt khi được bổ nhiệm về làm quan Trấn thủ xứ Thanh Nghệ, trong 19 năm, từ năm 1082, đến năm 1101.

Bia chùa Linh Xứng ghi rõ tướng Lý Thường Kiệt nguyên họ Ngô, tên là Ngô Tuấn, tên tự là Thường Kiệt, con ông Ngô An Ngữ, mẹ là bà họ Hàn. Sau khi ông được vua Lý ban quốc tính họ vua, ông và cha ông đổi sang họ Lý. Ông lấy vợ tên là Tạ Thuần Khanh.

Bia chùa Linh Xứng ghi rõ công đức của tướng Lý Thường Kiệt đối với nhân dân vùng Thanh Nghệ như sau:

Thái úy làm việc thì siêng năng, sai bảo dân thì ôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy. Khoan hòa giúp đỡ trăm họ, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính trọng. Thái úy biết lấy sự no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để lỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang, nuôi dưỡng cả đến người già ở nơi thôn dã, cho nên người già nhờ đó mà được an thân. Phép tắc như vậy có thể gọi là cái gốc của nước, cái thuật yên dân, sự tốt đẹp đều ở đấy cả”.

Thời nhà Lý, ngoài tướng Lý Thường Kiệt có nhiều công đức với dân, còn có 2 tướng văn, võ khác là Lê Phục Hiểu, và Lý Đạo Thành cũng có nhiều công đức với dân, được dân quí mến, thờ phụng. Tướng Lê Phụng Hiểu giúp vua Lý Thái Tổ, và vua Lý Thái Tông Phật Mã, dẹp yên được cuộc tranh chấp quyền lực của 3 hoàng tử tranh chấp ngôi vua với hoàng tử Lý Phật Mã.

Tướng Lý Đạo Thành lãnh đạo đất nước, lo việc nội trị, khi tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy quân đội đánh quân Tống. Đương thời, nhân dân kính mến tướng Lê Phụng Hiểu và tướng Lý Đạo Thành như quí mến tướng Lý Thường Kiệt. Không có 3 vị tướng này, nhà Lý không thể tồn tại kéo dài tới 226 năm được.

Cụ Ngô Thì Sĩ đã nhận xét về thời nhà Lý: “Đại để, chính sự triều Lý cốt chăm nghề nông, làm cho nước nhà giàu có”.

                                                         *

                                                 *              *

Có người nói nhà Lý làm nhiều điều nhân đạo, là vì nhà Lý tôn sùng đạo phật, có ảnh hưởng của đạo phật. Tất nhiên đạo phật có ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam, nhưng tính nhân đạo của người Việt Nam ta là tính cách có từ thời Hùng Vương. Như cụ Ngô Thì Sĩ đã nhận xét, thời kỳ Hùng Vương  “dân không có những sự phiền nhiễu về về việc thôi đốc thuế má, không phải giam giữ. Vua và dân tương thân nhau trong cuộc đời đến vài nghìn năm, có thể gọi là đời trí đức, nước cực lạc.”

Tính chất nhân đạo này của thời kỳ Hùng Vương thì làm gì đã có ảng hưởng của đạo phật. Đạo phật ra đời ở Ấn Độ sau thời kỳ Hùng Vương tới cả nghìn năm cơ mà. Đạo phật mới chỉ vào Việt Nam ta vào khoảng từ năm 500, và ngôi chùa đầu tiên ở Việt Nam ta là chùa Pháp Vân, ở phía huyện Thanh Trì, Hà Nội ngày nay, được xây vào khoảng năm 500, thời kỳ vua Lý Nam Đế-nước Vạn Xuân.

Hơn nữa tôn giáo nói chung thực sự là tàn bạo, chứ không phải nhân đạo. Chúng ta hãy xem các cuộc chiến tranh tôn giáo xưa và nay, tàn bạo hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào. Tôn giáo có một tính chất cực kỳ vô nhân đạo, là tôn giáo này không chấp nhận tôn giáo khác, tôn giáo này cho tôn giáo khác là tà đạo, và tìm mọi cách tiêu diệt các tà đạo, gây ra các cuộc chiến tranh tôn giáo liên miên. Ở châu Âu, có thời kỳ “đêm trường Trung Cổ”, kéo dài khoảng 500 năm (từ khoảng năm 1000 đến những năm 1500), khi đó các cha đạo-giáo hoàng thực sự lãnh đạo đất nước, các ông vua chỉ là bù nhìn. Và thời kỳ “đêm trường Trung Cổ” đó là thời kỳ tàn bạo nhất ở các nước châu Âu.

Thời nhà Lý sùng đạo phật, tưởng rằng phải nhân đạo, nhưng có một việc làm rất vô nhân đạo, là bà hoàng hậu Ỷ Lan, vì tranh chấp quyền lực, đã dèm pha với vua con bà, là vua Lý Nhân Tông, để giết vợ cả của vua cha Lý Thánh Tông, là Hoàng hậu Thượng Dương, cùng 76 thị nữ. Sau đó, bà Ỷ Lan hối hận, đã cho làm hàng trăm ngôi chùa để cúng cho hương hồn của những người bị bà giết oan.

Người dân Việt Nam ta sau này đã làm bài vè sau đây để chê bà Ỷ Lan:

“Dù xây chín tháp, mười ngà

Không bằng làm phúc, cứu cho một người”.

Bà Hoàng hậu Ỷ Lan sùng đạo phật, nhưng đạo phật đâu có ngăn cản được bà Ỷ Lan giết Hoàng hậu Thượng Dương và 76 cung nữ. Cụ Lê Tung thời nhà Lê đã nhận xét nhà Lý sùng đạo phật, nhưng đạo phật đâu có cứu được nhà Lý khỏi bị thay thế bằng nhà Trần.

Và chúng ta hãy xem các vụ án quấy rối tình dục ghê giớm nhất do các cha đạo, giáo hoàng gây ra trên thế giới ngày nay xem. Và hãy xem các giáo phái tôn giáo trên thế giới đang gây ra biết bao vụ khủng bố, bắt giữ con tìn đòi tiền chuộc vô cùng tàn bạo ngày nay xem, làm gì có sự nhân đạo ở đây.

Thế nhưng giờ đây, ở nước Việt Nam ta ngày nay, vẫn có nhiều người giàu tiền, vung vãi tiền ra để xây chùa, xây đền, lại con mời cả đại hội tôn giáo thế giới đến họp ở Việt Nam ta, rồi họ xây công viên tâm linh, để mong có cõi âm phù hộ cho mạnh khỏe, an toàn, không bị vào vòng lao lí, và cho giàu có hơn nữa.

Những vị giàu có hiện nay của thế kỷ 21 ở nước Việt Nam, đang vung tiền đi xây đền, chùa, và xây công viên tâm linh, có lẽ không biết câu vè trên của dân gian.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

hochiminhbao.com


Recent Posts
Sài Gòn xưa


Hà Nội xưa