hochiminhbao.com
               Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai-Lời vua Lý Thái Tông
       Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc-Lời tướng Trần Hưng Đạo
        Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc thì phải đàn hặc ngay-lời vua Lê Lợi
                                  Cán bộ là công bộc của dân-Lời Hồ Chí Minh
   Việc gì lợi cho dân, thì phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh-Lời Hồ Chí Minh
                          Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam-Lời Hồ Chí Minh
                 Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân-Lời Nguyễn Trãi

Tình báo Mỹ OSS và Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945

Năm 2006, ở Mỹ đã xuất bản cuốn sách  OSS and Hochiminh- Unexpected Allies in the War against Japan”, của tác giả, nữ giáo sư Dixee R Bartholomew -Feis.

Cuốn sách này đã được dịch sang tiếng Việt, đầu đề tiếng Việt là“OSS và Hồ Chí Minh, đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến tranh chống Nhật”-và được Nhà xuất bản Thế Giới xuất bản ở Hà Nội năm 2007.

Cuốn sách này đã nêu lại rất chi tiết, cụ thể về việc Cụ Hồ Chí Minh đã có quan hệ thế nào với cơ quan tình báo Mỹ OSS trong năm 1945, và OSS đã nhảy dù xuống Tân Trào, giúp quân đội Việt Minh như thế nào trước Cách mạng tháng 8 năm 1945,  các nhân viên OSS cũng đã giúp Cụ Hồ trong việc viết bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa như thế nào,,,.

Bối cảnh.

Tháng 6 năm 1940, Pháp bị Đức xâm lược, và Pháp đã đầu hàng nhanh chóng. Quân đội Nhật lợi dụng cơ hội này, tràn vào Đông Dương. Tháng 9 năm 1940, quân đội Pháp ở Đông Dương phải đồng ý cho Nhật cùng chia sẻ quyền cai trị 3 nước Đông Dương VN-CPC-Lào. Ở châu Á khi đó, quân đội phát- xít Nhật làm mưa làm gió, xâm lược Trung Quốc, Đài Loan, Philippine, Indonesia,,,.

Và ngày mồng 7 tháng 12 năm 1941, quân đội Nhật bất ngờ tấn công cảng Trân Châu (Pearl Habor Port) của Mỹ ở quần đảo Hawai-Thái Bình Dương. Nhưng trận tấn công này đã làm người Mỹ quyết tâm tiêu diệt quân đội phát- xit Nhật bằng được. Khi đó ở Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch  vừa chống Cộng sản Trung Quốc, vừa chống Nhật, nên trở thành đồng minh của Mỹ. Người Mỹ đã đề nghị Tưởng Giới Thạch cho Mỹ được sử dụng một số nơi trong Trung Quốc, để làm căn cứ sân bay, và từ đó, các máy bay Mỹ sẽ bay vào Việt Nam, oanh tạc các căn cứ quân sự của Nhật. Côn Minh đã được sử dụng làm căn cứ sân bay cho Quân đoàn không quân số 14 của Mỹ, do tướng Chennault làm Tư lệnh.

Và khi đó, nhu cầu về tin tình báo về tình hình quân đội Nhật ở Việt Nam trở nên rất cần thiết cho Mỹ. Không đoàn 14 của Mỹ rất cần các thông tin về tình hình thời tiết, các vị trí quân sự của Nhật, việc chuyển quân, vũ khí, đồ tiếp tế, đi từ đâu đến đâu, thời gian di chuyển,,, để có thể oanh tạc quân đội Nhật. Ban chỉ huy Không đoàn 14 sẽ căn cứ vào các thông tin đó, để cử máy bay sang Việt Nam oanh tạc.

Và còn một nhiệm vụ cũng rất quan trọng khác của các toán tình báo, là phải giải cứu các phi công Mỹ nếu bị Nhật bắn rơi. Ngày 13 tháng 6 năm 1942, Chính phủ Mỹ cho thành lập cơ quan tình báo chiến lược, gọi là OSS (Office of Strategic Services) (Đây là cơ quan tiền thân của Cục tình báo Trung ương Mỹ CIA. Năm 1947, CIA được thành lập, thay thế OSS), với mục đích thu thập tin tức tình báo để chống phe Trục (the Axis powers) Đức-Ý-Nhật. Chi nhánh OSS ở Trung Quốc có nhiệm vụ thiết lập mạng lưới tình báo ở Việt Nam để thực hiện 2 nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo, và cứu phi công Mỹ.

Việc giải cứu viên phi công Rudolph Shaw.

Ngày mồng 2 tháng 11 năm 1944, trong một chuyến bay trinh sát vào Việt Nam, máy bay của viên phi công Mỹ Rudolph Shaw bị hỏng máy, viên phi công buộc phải nhảy dù xuống ở vùng Cao Bằng. Khi nhảy dù chạm đất, rất may cho Trung úy Shaw, người đón anh không phải là lính Nhật, mà là cán bộ Việt Minh. Theo tường thuật mà anh Shaw viết lại sau này, người cán bộ Việt Minh đó không biết tiếng Anh, nhưng có thái độ rất thân thiện, tươi cười. Trung úy Shaw rút 600 đô-la ra đưa, nhưng người VN này không nhận, và dẫn anh đến căn cứ Việt Minh.

Các cán bộ Việt Minh và nhân dân Cao Bằng đã che dấu Trung úy Shaw suốt hơn 1 tháng, để tránh sự truy tìm của quân đội Nhật. Sau đó, Trung úy Shaw được dẫn đến gặp người lãnh đạo Việt Minh, tên là Hồ Chí Minh. Cụ Hồ Chí Minh nói chuyện với Trung úy Shaw bằng tiếng Anh, và hứa sẽ đưa anh về căn cứ Không đoàn 14 an toàn.

Theo cuốn sách “OSS và Hồ Chí Minh, đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến tranh chống Nhật” nói trên, thì nhân dịp cứu được trung úy Shaw, Cụ Hồ muốn gặp đại diện Chính phủ Mỹ để tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ đối với phong trào Việt Minh, khi đó vốn chưa có tiếng tăm gì.

Sau đó, Cụ Hồ cùng ông Phạm Văn Đồng đưa Trung úy Shaw sang Trung Quốc. Tại Quảng Tây, Trung úy Shaw được máy bay đưa về Mỹ, còn Cụ Hồ và ông Phạm Văn Đồng đi bộ tiếp đến Côn Minh, với ý định gặp tướng Chennault, Tư lệnh Không đoàn 14 của Mỹ. Đại diện của tổ chức tình báo OSS của Mỹ ở Côn Minh đã biết được có các nhân viên Việt Minh ở Côn Minh, nên muốn gặp Cụ Hồ, để tìm hiểu Việt Minh là tổ chức gì, và liệu OSS có thể hợp tác với Việt Minh để thiết lập mạng lưới tình báo chống Nhật ở Việt Nam được hay không. Khi đó, OSS thực ra đã có mạng lưới tình báo riêng của mình ở Việt Nam rồi, nhưng muốn mở rộng hơn nữa mạng lưới này.

Hợp tác với OSS.

Ngày 17 tháng 3 năm 1945, Thiếu tá Charles Fenn của OSS đã gặp Cụ Hồ và ông Phạm Văn Đồng tại Côn Minh. Ông Đồng không biết tiếng Anh, nên cả 3 người dùng tiếng Pháp. Đây là cuộc tiếp xúc đầu tiên của Cụ Hồ Chí Minh và tổ chức tình báo Mỹ OSS. (Năm 1997, nhà sử học Dương Trung Quốc tháp tùng các cụ Việt Minh sang Mỹ, gặp lại các cụ OSS còn sống, và đã gặp được cụ Fenn, khi đó đã 90 tuổi.)

Những cuộc gặp sau đó đã đạt được thỏa thuận, tổ chức Việt Minh sẽ giúp OSS thu thập tin tức tình báo chống Nhật. Ngược lại, Việt Minh cần sự công nhận của Mỹ, và cần sự giúp đỡ về vũ khí để đấu tranh chống Nhật.

Ngày 15 tháng 4 năm 1945, Cụ Hồ trở về Cao Bằng, cùng với 2 nhân viên điện đài của OSS, là Frank Tan, và Mac Shin, cùng với nhiều thiết bị, vũ khí giúp Việt Minh. (Năm 2005, Thủ tướng Phan Văn Khải sang thăm Mỹ, là chuyến viếng thăm Mỹ đầu tiên của Thủ tướng Việt Nam ta. Trước khi đến Thủ đô Wasshington để gặp Tổng thống Mỹ Bush, Thủ tướng Khải đã  dừng chân ở thành phố Seatle, và người Mỹ đầu tiên ra đón Thủ tướng Khải là ông cụ cựu chiến binh OSS Mac Shin nói trên.)

Giữa tháng 6 năm 1945, nhân viên Dan Phelan của OSS cũng nhảy dù xuống khu vực Việt Minh ở Tân Trào, cùng với nhiều vũ khí hiện đại của Mỹ giúp Việt Minh. Ông Phelan đã được dẫn đến gặp cụ Hồ Chí Minh, và người chỉ huy trẻ Võ Nguyên Giáp (khi đó Đại tướng của ta mới 34 tuổi, chưa được phong Đại tướng).

Và các sĩ quan OSS bắt đầu huấn luyện cho Việt Minh cách sử dụng các loại vũ khí hiện đại của Mỹ. Ngày 16 tháng 7 năm 1945, thiếu tá Allison Thomas cùng 3 nhân viên khác của OSS nhảy dù xuống khu vực Tân Trào, cùng với nhiều vũ khí, đạn dược nữa cho Việt Minh, và được Việt Minh đón tiếp nồng nhiệt. Cụ Hồ đã hướng dẫn các đầu bếp Việt Nam làm các món sườn nướng rất ngon theo đúng khẩu vị Mỹ để chiêu đãi các sĩ quan OSS.

Sau đó, ngày 29 tháng 7, lần lượt nhiều nhân viên OSS nữa cũng nhảy dù xuống Tân Trào. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, sau khi bị Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống Hirosima ngày mồng 6 tháng 8, và xuống Nagasaki ngày mồng 9 tháng 8 năm 1945. Đây là thời cơ “nghìn năm có một” để nhân dân Việt Nam giành chính quyền.

Khi đó, nước Việt Nam ta đã có chính quyền của Cụ Trần Trọng Kim, vốn là nhà giáo, nhà sử học nổi tiếng ở Việt Nam.

Ngày mồng 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, giành quyền cai trị Việt Nam. Khi đó, quân đội Nhật ở Việt Nam muốn chọn một người có uy tín trong nhân dân Việt Nam để đứng ra thành lập Chính phủ. Cụ Trần Trọng Kim khi đó là một trong những nhà trí thức nổi tiếng nhất, đáng kính nhất ở Việt Nam. Nên Cụ Trần Trọng Kim được quân đội Nhật ủng hộ, và được vua Bảo Đại mời ra thành lập Chính phủ.

Chính phủ Cụ Trần Trọng Kim được thành lập ngày 14 tháng 4 năm 1945. Chính phủ của Cụ Trần Trọng Kim khi đó gồm các Bộ trưởng là các trí thức, luật sư nổi tiếng, như luật sư Phan Anh, nhà trí thức Phạm Quỳnh, giáo sư Hoàng Xuân Hãn, nhà giáo Nguyễn Văn Tố, cụ Phan Kế Toại, luật sư Trịnh Đỉnh Thảo,,,.Nhiều người trong số này sau này trở thành Bộ trưởng trong Chính phủ Cụ Hồ Chí Minh. Như Luật sư Phan Anh, trở thành Bộ trưởng Quốc phòng, sau đó là Bộ trưởng Ngoại thương. Cụ Phan Kế Toại trở thành Phó Thủ tướng. Cụ Nguyễn Văn Tố trở thành Chủ tịch Quốc hội,,,.

Nhưng vì Chính phủ cụ TrầnTrọng Kim  là Chính phủ thân Nhật, nên sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, thì Chính phủ Cụ Trần Trọng Kim cũng sụp đổ, nhường quyền lãnh đạo đất nước cho phong trào Việt Minh của Cụ Hồ Chí Minh.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, khi nhân dân Hà Nội và đại diện Việt Minh chiếm chính quyền Hà Nội, thì trước đó 2 ngày, vào ngày 17 tháng 8 năm 1945, quân đội Việt Minh ở Tân Trào vẫn miệt mài tập quân sự  do Thiếu tá Allison Thomas huấn luyện.

Trong số các huấn luyện viên này, có binh nhất Henry Prunier, người đã dạy cho tướng Võ Nguyên Giáp của ta cách ném lựu đạn. Chúng ta đều biết đại tướng Võ Nguyên Giáp của ta không phải xuất thân từ con nhà binh. Ông Prunier sau này nhớ lại rằng đã có lúc, vị chỉ huy trẻ của Việt Minh, khi đó đại tướng Giáp mới 34 tuổi, nhìn trực tiếp vào nòng khẩu súng cối.

“Tôi đã bị shock. Đầu ông ấy có thể bị bắn văng đi”-cụ Prunier nhớ lại. Thế mà cái người mà buổi đầu rất i tờ về quân sự đó, sau này chỉ đã huy đội quân đánh thắng cả người Pháp và người Mỹ.

Năm 1995, cụ Prunier đã được mời sang Hà Nội, gặp lại các cựu chiến binh Việt Minh của Việt Nam, và gặp lại đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi này đã 95 tuổi, những vẫn nhận ra người huấn luyện viên  OSS cũ của mình, và Đại tướng đã cầm một quả cam lên, làm lại động tác như ném quả lựu đạn, là kỹ thuật mà cụ Prunier đã dạy Đại tướng.

Ngày 22 tháng 8 năm 1945, thiếu tá Patti của Mỹ dẫn đầu đội quân nhỏ hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm, để giám sát cuộc giải giáp quân đội Nhật. Vào ngày 26 tháng 8, ông Võ Nguyên Giáp đại diện Việt Minh đã tổ chức lễ đón long trọng phái đoàn quân sự Mỹ, do Thiếu tá Patti dẫn đầu. Cờ đỏ sao vàng của Việt Nam lần đầu tiên được kéo lên, bay phấp phới bên cạnh cờ Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch). Ông Võ Nguyên Giáp nói với ông Patti:

-“Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, quốc kỳ của chúng tôi đã xuất hiện trong một nghi lễ quốc tế, và quốc ca của chúng tôi vang lên trước thái độ kính trọng của một vị khách nước ngoài (Patti). Tôi sẽ nhớ mãi thời khắc này”.

Chúng ta biết rằng cái ngày 22 tháng 8 đó, chưa đến ngày mồng 2 tháng 9, tức là chưa đến ngày mà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của ta ra đời.

Ngày 29 tháng 8, cụ Hồ Chí Minh mời Thiếu tá Patti đến gặp tại nhà của ông bà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô tại phố Hàng Đào, để thông báo 2 việc quan trọng:

1-Ngày mai, 30 tháng 8, Hoàng đế Bảo Đại sẽ thoái vị.

2-Ngày mồng 2 tháng 9, sẽ trở thành ngày Độc lập của Việt Nam.

Và cụ Hồ Chí Minh muốn tham khảo lần cuối ông Patti về bản Tuyên Ngôn độc lập của Việt Nam.

Thực ra, từ tháng 5 năm 1945, khi ông Dan Phelan nhảy dù xuống Tân Trào, cụ Hồ Chí Minh đã cho ông Dan Phelan biết Cụ Hồ đang ấp ủ viết bản Tuyên Ngôn Độc lập của nước Việt Nam, và đã hỏi ý kiến của ông Phelan về bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ. Theo ông Dan Phelan nhớ lại, thật ra khi hỏi ông Phelan, Cụ Hồ đã biết rất rõ nội dung bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776. Sau đó, ông Dan có chuyển cho Việt Minh cả bản Hiến pháp Mỹ, và Luật Nhân quyền Mỹ.

Như vậy Thiếu tá Patti là người Mỹ thứ hai được Cụ Hồ tham khảo về bản Tuyên Ngôn độc lập của Việt Nam.  Vào ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, Cụ Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong các bức ảnh về ngày mồng 2 tháng 9 đó, trên khán đài mà Cụ Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập, có hình ảnh Cựu hoàng Bảo Đại, đứng phía sau Cụ Hồ, và ảnh ông Patti, cao lớn, mặc quân phục xám, đội mũ ca-lô, đứng bên cạnh Cụ Hồ. Trước khi Cụ Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, Cụ Hồ nói với đồng bào lời nói dản dị đi vào lòng người “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không”.

Sau đó ông Võ Nguyên Giáp đọc diễn văn về các vấn đề của Chính phủ lâm thời. Trong diễn văn đó, có đoạn ông Võ Nguyên Giáp nói về nước Mỹ:

“-Mỹ là một nước dân chủ, không có tham vọng về lãnh thổ, nhưng đã góp phần đặc biệt đánh bại kẻ thù của chúng ta, phát-xít Nhật. Vì thế, chúng ta coi Mỹ như người bạn tốt.”

Khi chuẩn bị kết thúc diễn văn này, ông Giáp nói về Tổng thống Mỹ Roosevelt :

“-Như Ngài Roosevelt đã từng nói, áp bức và tàn bạo đã làm cho chúng ta biết ý nghĩa của tự do”.

Khi đó, trong những ngày Cách mạng tháng 8 sôi sục ấy, ở Hà Nội có 59 người Mỹ, hầu hết là các nhân viên OSS. Họ được Việt Minh và nhân dân Việt Nam đón tiếp nồng nhiệt. Cũng ngay trong tháng 9 năm 1945, Cụ Hồ cho thành lập Hội Hữu nghị Việt-Mỹ. Quan hệ VIệt Nam-Mỹ chưa bao giờ tốt như vậy.

Trung tá Deway.

Thế nhưng lịch sử lại không chiều theo lòng người.

Trong khi Cụ Hồ và Ban lãnh đạo Trung ương Việt Minh ở Hà Nội muốn hữu hảo với Mỹ, và hữu hảo cả với Pháp, để xây dựng một nước Việt Nam độc lập, và chấm dứt cảnh chiến tranh, thù hận lâu dài, và hi vọng hợp tác làm ăn sau chiến tranh, thì ở miền Nam, việc giành được chính quyền về tay nhân dân đã kèm theo nhiều vụ trả thù đẫm máu nhằm vào người Pháp. Lực lượng Việt Minh ở miền Nam dưới sự chỉ huy của ông Trần Văn Giàu đã không ngăn cản được các cuộc thanh toán trả thù nhằm vào người Pháp này.

Lỗi của ai, thì xin để sau này lịch sử tiếp tục phán xét.

Đầu tháng 9 năm 1945, một nhóm OSS khác của Mỹ đến Sài Gòn, do Trung tá Peter Deway chỉ huy, để hồi hương cho các tù binh chiến tranh người Mỹ bị Nhật bắt giữ, và bảo vệ các tài sản của Mỹ, không nhiều lắm, ở Sài Gòn.

Ngày 26 tháng 9 năm 1945, Trung tá Deway ra sân bay Tân Sơn Nhất để rời Việt Nam. Ông Deway lái xe, cùng đi có một đồng đội OSS là Herbert Bluechel. Cách tòa nhà OSS khoảng 500 mét, có 2 khúc gỗ chắn đường, để chừa một lối nhỏ. Trung tá Deway giảm tốc độ xe, đi vòng qua phía lối đi nhỏ bỏ ngỏ. Đúng lúc ấy, một nhóm Việt Minh ẩn náu cách đó 3 mét đã bắn súng máy vào trung tá Deway. Trung tá Deway bị bắn vào đầu ở khoảng cách 3 mét, nên bị chết ngay. Chiếc xe bị lật, nên che cho người đồng đội là Bluechel. Anh Bluechel chui ra khỏi xe, và rút súng bắn lại nhóm Việt Minh, và chạy bộ về trụ sở OSS cách đó khoảng 500 mét. Nhóm Việt Minh đuổi theo, nhưng bắn không trúng. Bluechel chạy được vào trụ sở OSS, và kêu gọi các đồng ngũ OSS chuẩn bị chiến đấu chống lại nhóm Việt Minh.

Cuộc bắn nhau kéo dài hơn 2 giờ đồng hồ, sau đó là việc điều đình giữa hai bên. Một đại diện Việt Minh đã đến gặp nhóm OSS của anh Bluechel, và nói rằng Việt Minh đã nhầm người Mỹ là người Pháp. Anh Bluechel yêu cầu nhóm Việt Minh phải trao trả xác trung tá Deway. Người đại diện Việt Minh hữa sẽ đi tìm và mang về. Nhưng anh ta không bao giờ quay lại.

Vài ngày sau, anh Bluechel và các đồng đội tìm được một cái hố chôn người, dưới hố có một đai đeo gươm, một bao súng lục, một bi dông nước. Anh Bluechel nhận ra đó là các đồ vật của trung tá Deway. Như vậy, mấy người du kích mà bắn chết Trung tá Deway có lẽ sợ người Mỹ tìm ra xác ông Deway, nên đã di chuyển xác của ông đi chỗ khác.

Cụ Hồ khi nghe tin này, đã sững sờ, ra lệnh cho đi tìm lại xác Trung tá Deway, nhưng khi đó quân hồi vô phèng, lệnh trên không thiêng, nên không tìm được. Cho đến bây giờ, đã hơn 60 năm trôi qua, gia đình ông Deway vẫn đi tìm xác ông Deway. Những  đầu óc bảo thủ trong Chính phủ Mỹ khi đó vốn không ủng hộ Việt Minh, đã nắm lấy cơ hội đó, dùng cớ đó để quyết định rút tất cả các nhân viên OSS ra khỏi Việt Nam. Một chương mới trong quan hệ Việt-Mỹ bắt đầu, người Mỹ quay sang ủng hộ người Pháp để đánh Việt Minh. Và sau khi người Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ năm 1954, người Mỹ tiếp tục trực tiếp can thiệp vào Việt Nam, và dẫn đến cuộc chiến tranh 21 năm đau thương, đến năm 1975 mới kết thúc.

Thế nhưng, chúng ta cũng không nên chỉ trách người Mỹ. Hãy thẳng thắn nhìn vào những lỗi lầm của người Việt Nam chúng ta. Mấy anh du kích súng ngựa trời đó có lẽ nghĩ nhầm thiếu tá Deway là người Pháp. Nhưng giết một người Pháp thì được cái gì? Thiếu tá Deway mà bị tưởng là người Pháp đó khi đó chỉ đang trên đường ra sân bay, có làm gì nguy hiểm cho dân Việt Nam ta đâu. Khi đó chiến tranh đã kết thúc, chính quyền mới đang hình thành. Không biết mấy anh du kích giết chết Trung tá Deway đó, và vứt xác Trung tá đi đâu đó, ngày nay còn sống không. Liệu mấy anh du kích đó có hiểu rằng những việc làm manh động của mình lại có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường, mà cả dân tộc phải chịu đựng trong thời gian lâu dài sau này. Bao nhiêu công lao mà Cụ Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng,,,đã giày công vun xới cho tình hữu nghị Việt-Mỹ trong năm 1945 đó, đã đổ xuống sông xuống biển chỉ vì hành động manh động của mấy anh du kích súng ngựa trời ở Sài Gòn.

Dĩ nhiên không phải chỉ sự kiện giết chết viên Trung tá Deway đã dẫn đến quan hệ Việt-Mỹ xấu đi. Nhưng lịch sử đã từng chứng minh có những sự kiện quan trọng, có thể làm thay đổi cả cục diện thế giới, lại bắt nguồn từ những chuyện vụn vặt.

Ví dụ Chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918 đã bắt đầu từ sự kiện ám sát Công tước Archduke Franz Ferdinad của nước Áo ngày 28 tháng 6 năm 1914. Và từ cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất này, đã dẫn đến hình thành Đảng Quốc xã ở Đức, và Hittler làm thủ lĩnh đảng này. Từ đó đã dẫn đến thêm cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai 1939-1945. Như vậy, việc ám sát Công tước Archduke Franz của Áo năm 1914 đã là nguyên cớ trực tiếp và gián tiếp dẫn đến 2 cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, và thứ hai.

Rất có thể việc giết ông trung tá Deway cũng là một nguyên cớ nào đó dẫn Việt Nam ta tới 2 cuộc chiến tranh với người Pháp và người Mỹ. Toàn bộ lịch sử Việt Nam đã bị thay đổi, và đến nay dân Việt Nam ta vẫn phải chịu đựng tiếp những hậu quả đó, chỉ vì mấy hành động manh động của mấy anh du kích súng ngựa trời đó.///

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

hochiminhbao.com


Recent Posts
Sài Gòn xưa


Hà Nội xưa