hochiminhbao.com
               Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai-Lời vua Lý Thái Tông
       Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc-Lời tướng Trần Hưng Đạo
        Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc thì phải đàn hặc ngay-lời vua Lê Lợi
                                  Cán bộ là công bộc của dân-Lời Hồ Chí Minh
   Việc gì lợi cho dân, thì phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh-Lời Hồ Chí Minh
                          Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam-Lời Hồ Chí Minh
                 Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân-Lời Nguyễn Trãi

Thiền sư Nguyễn Nguyên Ức thời nhà Lý nói về Lẽ hưng vong của quốc gia

Sử cũ của ta chép lại rằng ông Nguyễn Nguyên Ức, quê ở Bắc Ninh, là thiền sư thời nhà Lý, sinh năm 1080, mất năm 1151, cách đây gần 1000 năm. Ông đã thi đỗ 2 khoa thi, trụ trì chùa Ấn Quốc, được các vua Lý rất trọng đãi.

Thiền sư Nguyễn Nguyên Ức có nhiều ý kiến đóng góp cho vua Lý Thần Tông, (là đời vua thứ 5 triều nhà Lý) về phép trị nước, nổi tiếng là bài Trần tình về lẽ hưng vong, trị loạn của quốc gia.

Bản trần tình viết:

“Nước trị hay loạn cốt ở trăm quan, được (lòng) người thì nước trị, mất (lòng) người thì nước loạn. Thần trải xem các bậc đế vương đời trước, thấy chưa từng ai không dùng quân tử mà hưng được nghiệp, không dùng tiểu nhân mà bị tiêu vong. Tuy nhiên nguồn gốc dẫn đến những sự hưng vong đó, không phải là cái cớ một sớm một chiều. Chúng xuất hiện dần dần. Ví như trời đất, không thể nóng hay rét bất thần, mà phải biến chuyển dần dần qua mùa xuân thu. Vua chúa cũng không thể bất thần hưng hay vong được, mà phải dần dần do làm thiện hay gây ác”.

Thiền sư khuyên nhà vua nên biết đãi người hiền tài, chăm lo cho dân, để cho nước được hưng, không vong. Lúc này nhà Lý đã trải qua 5 đời vua, trên 100 năm, các vua đời sau bắt đầu ăn chơi sa đọa, sức khỏe ốm yếu, thường chết non, không trọng dụng người hiền tài, chỉ trọng dụng kẻ xu nịnh. Đó là lý do thiền sư Nguyễn Nguyên Ức viết bản điều trần này.

Toàn bộ diễn biến trong lịch sử nước ta từ xưa đến nay đã chứng minh cái lẽ hưng vong đó của thiền sư Nguyễn Nguyên Ức. Nhà Lý đánh bại được quân xâm lược Tống, nhà Trần 3 lần đánh bại quân xâm lược Nguyên – Mông, là nhờ triều đình biết chăm lo cho dân, trọng dụng kẻ hiền tài. Nhưng khi vua, quan bắt đầu ham chơi, tham nhũng, khinh bạc người hiền tài, không chăm lo cho dân, thì nước bắt đầu loạn, chính quyền rơi vào tay người khác.

Và đã có ít nhất 2 lần, nhà Hán lợi dụng lúc nước ta loạn, đã đem quân vào xâm lược, đó là nhà Minh thế kỷ 15, và nhà Thanh thế kỷ 18.

Rất may nước ta có Lê Lợi và Quang Trung, nối tiếp tinh thần Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, đã lãnh đạo cả nước đấu tranh giành lại được độc lập.

Đến đời nhà Nguyễn, lạc hậu, chậm phát triển, “bế quan tỏa cảng”, không chịu nghe theo những lời góp ý đổi mới của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện, Đặng Huy Trứ… để bị người Pháp đô hộ gần 100 năm.

Chỉ đến khi Bác Hồ lãnh đạo đảng cộng sản, lãnh đạo đất nước, nước ta mới giành được độc lập và chiến thắng trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ và đồng minh, thống nhất được đất nước.

Nhưng sau khi thống nhất đất nước năm 1975, nước ta lại rơi vào khủng hoảng. Khi đó chúng ta áp dụng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa một cách triệt để, đó là xóa bỏ kinh tế tư nhân, xóa bỏ chế độ tư hữu, xóa bỏ kinh tế thị trường, xóa bỏ tự do giá cả, ngăn cấm đầu tư nước ngoài, áp dụng nền kinh tế tập trung kế hoạch hóa, chỉ duy nhất tồn tại kinh tế quốc doanh và hợp tác xã, người nông dân phải vào hợp tác xã, đi làm theo tiếng kẻng của hợp tác xã. Kết quả là đất nước sống trong vựa thóc mà bị đói, phải nhập khẩu gạo và đi xin viện trợ bột mì, sắn, ngô. Hàng hóa khan kiếm, cả nước phải áp dụng chế độ tem phiếu, sổ gạo, đời sống nhân dân cực kỳ bi đát. Cả nước phải ăn hạt bo-bo. Báo chí được hướng dẫn viết bài ca ngợi hạt bo-bo và ngô, sắn là tốt cho sức khỏe. Người vượt biên bỏ nước ra đi nhiều. Người tài giỏi chỉ biết nhìn đất nước bị suy kiệt mà bị trói chân, trói tay không thể giúp gì cho nước, cho nhà.

Khi đó tình hình Việt Nam ta thật là cùng quẫn.

Thế rồi chúng ta có Đổi mới sau Đại hội Đảng lần thứ 6, năm 1986.

Nhờ có Đổi mới mà nước ta đã vượt ra được khủng hoảng, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện một bước, nụ cười tươi, lạc quan ở tương lai đã bắt đầu xuất hiện trên khuôn mặt người Việt Nam ta.

Thực chất 20 năm Đổi mới là gì? Là hệ thống chính trị vẫn xã hội chủ nghĩa, nhưng nền kinh tế đã bước đầu vận hành theo kinh tế thị trường, mà theo cách nói của ta, là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Với Đổi mới, Việt Nam đã bước đầu chấp nhận có kinh tế tư nhân, là khu vực kinh tế mà trước đây bị cho là xấu, tiêu cực, phải bị thủ tiêu, vì cho là kinh tế tư nhân sẽ sinh ra bóc lột, và từ đó sinh ra bất công xã hội, sinh ra đấu tranh giai cấp, và chính quyền sẽ bị lung lay, dẫn tới bị lật đổ.

Sở hữu tư nhân về đất đai tuy chưa được thừa nhận trở lại (lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của nước ta, cha ông ta chưa bao giờ tước đoạt quyền sở hữu tư nhân về đất đai của người dân), nhưng tư liệu sản xuất đã được công nhận quyền tư hữu.

Nông dân tuy chưa được thừa nhận trở lại quyền tư hữu ruộng rất, nhưng được quyền sử dụng ruộng đất lâu dài, và được tự chủ sản xuất kinh doanh theo chính sách khoán 10 của Bộ Chính trị ban hành từ năm 1987.

Chỉ một chính sách khoán 10 cởi trói cho nông dân, Nhà nước không phải tốn một đồng nào để đầu tư, mà nước ta đã sản xuất đủ lương thực để ăn, lại còn dư cho xuất khẩu, và năm 2005, xuất khẩu kỷ lục trên 5 triệu tấn gạo, và năm 2018, xuất khẩu khoảng hơn 20 triệu tấn gạo.

Chỉ một chính sách công nhận kinh tế tư nhân, Nhà nước không phải đầu tư một đồng nào, mà đến nay, cả nước có trên 500.000 công ty tư nhân, huy động hàng trăm ngàn tỷ đồng cho đầu tư phát triển đất nước, đóng góp gần 2/3 cho GDP.

Số tiền đầu tư đó, trước đây chỉ nằm yên trong tủ, chôn sâu trong vườn của người dân, mà không được dùng cho đầu tư phát triển. Nhờ Đổi mới, mà đầu tư nước ngoài đổ vào nước ta, mỗi năm trên dưới 10 tỷ đôla, đóng góp gần 1/3 cho giá trị GDP. Có thể nói Đổi mới đã đưa nước ta từ bờ vực “loạn” sang “trị”, từ bờ vực “vong” sang “hưng”.

Đổi mới là kết quả của những nhân tài đầy bản lĩnh trong đảng cộng sản Việt Nam, dám hoạch định con đường đổi mới, không sợ phạm húy, cấm kỵ vào các giáo điều của học thuyết Mác, Lê-nin.

Giờ đây, đất nước đã bước vào năm 2019, Đổi mới đã được hơn 30 năm. Toàn thể nhân dân Việt Nam và bà con người Việt ở hải ngoại, và cả bạn bè quốc tế năm Châu, đều đang nhìn vào các vị lãnh đạo mới với đầy hi vọng, mong muốn có một Việt Nam đổi mới đột phá hơn nữa.

Và bản Điều trần của thiền sư Nguyễn Nguyên Ức cách đây hơn 1000 năm về trọng dụng nhân tài, loại bỏ kẻ tiểu nhân, kém đức, kém tài vẫn có giá trị cho chúng ta ngày nay. ///

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

hochiminhbao.com


Recent Posts
Sài Gòn xưa


Hà Nội xưa