hochiminhbao.com
               Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai-Lời vua Lý Thái Tông
       Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc-Lời tướng Trần Hưng Đạo
        Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc thì phải đàn hặc ngay-lời vua Lê Lợi
                                  Cán bộ là công bộc của dân-Lời Hồ Chí Minh
   Việc gì lợi cho dân, thì phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh-Lời Hồ Chí Minh
                          Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam-Lời Hồ Chí Minh
                 Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân-Lời Nguyễn Trãi

Tên nước Việt Nam ta từ trước đến nay

Từ ngày xưa, nước Việt Nam ta đã từng có nhiều tên gọi khác nhau. Bây giờ chúng ta ôn lại một chút các tên gọi đó.

  • Văn Lang (2879 trước Công Nguyên-258 tCN). Tên đầu tiên của nước Việt Nam là Văn Lang, thuộc thời kỳ Hồng Bàng. Thời kỳ Hồng Bàng là thời 18 vua Hùng Vương cách đây hơn 4000 năm. Khi đó, dân tộc Việt Nam ta có tên gọi là dân tộc Lạc Việt, và nhà nước Văn Lang.


Tên nước Văn Lang đó kéo dài suốt 2622 năm, từ năm Nhâm Tuất 2879 tCN, là năm mà vị vua đầu tiên của dân tộc Lạc Việt, của 18 vua Hùng Vương, tên là vua Kinh Dương Vương lên ngôi, đến năm Quí Mão, 258 tCN, là năm cuối cùng của vua Hùng Vương cuối cùng, là vua Hùng Vương thứ 18, tên là Hùng Duệ Vương.

  • Âu Lạc (257 tCN-208 tCN). Năm Giáp Thìn 257 trước CN, vua Thục Phán của dân tộc Âu Việt ở bên cạnh dân tộc Lạc Việt thay vua Hùng Vương 18, lên làm vua lấy tên hiệu là An Dương Vương, sáp nhập 2 bộ tộc Lạc Việt, và Âu Việt, đổi tên nước từ Văn Lang thành tên nước Âu Lạc, chấm dứt thời kỳ Hùng Vương, bắt đầu thời kỳ An Dương Vương. Có thuyết nói rằng vua Thục Phán của dân tộc Âu Việt đánh bại vua Hùng vương thứ 18, lên ngôi vua nước Âu Lạc. Thuyết khác cho rằng vua Hùng vương thứ 18 nhường ngôi cho Thục Phán, theo đề nghị của con rể là Sơn Tinh, chứ không có chiến tranh, và di tích của sự kiện này là Cột Đá Thề vẫn còn lại đến bây giờ ở đền Hùng, Vĩnh Phú ngày nay. Việc này sẽ nói kỹ ở phần sau. Vua An Dương Vương lên ngôi năm 257 tCN, bắt đầu tên gọi nước Âu Lạc.
  • Nam Việt, Giao Chỉ, Tượng Quận, Nhật Nam, Giao Châu, An Nam Đô Hộ Phủ,,,. Tên nước Âu Lạc chỉ tồn tại được 50 năm, từ năm Giáp Thìn 257 tCN, đến năm Quí Tị 208 tCN, vì Triệu Đà của nhà Hán dùng kế gian cho con trai Trọng Thủy sang kết hôn với con gái Mị Châu của vua An Dương Vương, sau đó ăn cắp nỏ thần, và đánh bại vua An Dương Vương vào năm 208 tCN. Từ năm Giáp Ngọ 207 tCN, Triệu Đà thôn tính nước Việt Nam ta, bắt đầu thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc, nhà Hán gọi nước ta là Giao Chỉ và nhiều tên gọi khác. Triệu Đà tự phong là Nam Việt Vương.

Bộ sách Đại Việt Sử ký Toàn thư của cụ Lê Văn Hưu (1230-1322), và cuốn Việt Nam Sử lược của cụ Trần Trọng Kim (1882-1953) rất sai lầm đã xếp Triệu Đà thuộc hàng ông tổ của người Việt Nam ta, giống như các vua Hùng Vương, An Dương Vương.

Cụ Ngô Thì Sĩ (1726-1780) đã phê phán điều này trong cuốn Việt Sử Tiêu án. Triệu Đà chỉ là một người Hán thời Tần Thủy Hoàng, phản loạn nhà Tần, sang xâm lược Việt Nam ta, cũng giống như bao nhiêu triều đại Hán khác sau này. Không thể coi Triệu Đà là ông tổ của người Việt Nam ta được.

Việc này cũng sẽ nói rõ ở phần sau.

Năm 111 tCN, con cháu Triệu Đà bị nhà Hán đánh bại. Từ đó, nước Việt Nam ta bị nhà Hán trực tiếp cai trị, và gọi nước ta với nhiều tên gọi khác nhau như Giao Chỉ, Tượng Quận, Nhật Nam, Cửu Chân, Giao Châu, An Nam Đô Hộ Phủ,,,.

Có người giải thích chữ Giao Chỉ, tức là các ngón chân quặp vào nhau. Khi tôi còn nhỏ, tôi đã theo gia đình đi sơ tán, sống ở nhiều vùng nông thôn miền Bắc Việt Nam để tránh máy bay Mĩ. Khi đó tôi đã từng nhìn thấy nhiều phụ nữ Việt Nam đứng tuổi có 2 ngón chân cái, và ngón chân thứ hai quặp vào nhau, chồng lên nhau. Không biết bây giờ có còn những người có ngón chân quặp vào nhau như thế nữa không. Nhiều người giải thích rằng việc biến dạng ngón chân đó của người Việt Nam ta có lẽ do thói quen đánh bắt cá, dùng ngón chân để quặp, bắt con cá.

      • Vạn Xuân (541-547). Năm Canh Tý 40 sau Công nguyên (sau CN), Hai Bà Trưng khởi nghĩa giành được độc lập từ quân Nam Hán trong 3 năm, đến năm 43 Nhâm Dần, đặt tên hiệu vua là Trưng Nữ Vương, nhưng không rõ đặt tên nước là gì. Sau đó, Mã Viện của nhà Hán sang đánh bại Hai Bà Trưng, đặt lại ách đô hộ của nhà Hán lên nước Việt Nam ta. 500 năm sau, vào năm 541, ông Lí Bí lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đổ quân Hán, giành độc lập, lên làm vua, đặt tên hiệu vua là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân. Năm 547, vua Lí Nam Đế ốm mất, ông Triệu Quang Phục-Triệu Việt Vương lên thay.
      • An Nam Đô Hộ Phủ, Trấn Nam Đô Hộ Phủ (603-938). Năm 603, nhà Hán quay lại đô hộ nước ta, đặt tên nước ta như trên.

Năm 938, cụ Ngô Quyền (899-944) đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc. Khi đó, cụ Ngô Quyền có đặt tên nước không, hay vẫn giữ tên nước như nhà Hán gọi, thì không thấy các sách sử viết lại.

      • Đại Cồ Việt (968-979). Cụ Ngô Quyền chỉ làm vua được 6 năm, từ năm 938, đến năm 944, thì qua đời. Sau khi cụ Ngô Quyền mất, từ năm 945 đến năm 967, suốt 22 năm, nước ta có Loạn 12 sứ quân, vì các sứ quân tranh giành ngôi vua với các con ông Ngô Quyền. Năm 968, cụ Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân, lên làm vua, lấy tên hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt.

Về tên nước Đại Cồ Việt này, cụ Ngô Tất Tố (1894-1954) đã có nhận xét trong cuốn “Văn học đời Lý” rằng đó là tên “nửa tự, nửa nôm”, tức là nửa chữ Hán, nửa chữ Việt, vì đại là chứ Hán, tức là to, và cồ, chữ Việt cổ, cũng là to. Trong hai chữ đó, chỉ cần 1 chữ là đủ nói đến nước Việt to, vĩ đại. Điều đó cho thấy sau hơn 1000 năm người Hán đô hộ Việt Nam ta, muốn Hán hóa, đồng hóa người Việt ta vào văn hóa Hán, nhưng không đồng hóa được, chữ Việt vẫn tồn tại mạnh mẽ bên cạnh chữ Hán.

      • Đại Việt. Vua Lý Thái Tổ-Lý Công Uẩn cho dời đô từ Hoa Lư-Ninh Bình về Thăng Long năm 1010, và đặt tên thủ đô là Thăng Long-Rồng bay từ năm đó. Vua Lý Thái Tổ qua đời năm 1054, vua Lý Thái Tông, con trai vua Lý Thái Tổ, khi lên ngôi vua năm 1054, đã cho đặt tên nước là Đại Việt. Tên nước Đại Việt tồn tại gần 1000 năm, đến năm 1802, vua đầu tiên của nhà Nguyễn là Nguyễn Ánh-Gia Long đổi tên nước Đại Việt thành Việt Nam.
      • Đại Nam. Năm 1831, con vua Gia Long là vua Minh Mệnh cho đổi tên Việt Nam thành Đại Nam. Tên nước Đại Nam tồn tại trong 114 năm, từ năm 1831, đến năm 1945. Tháng 3 năm 1945, Chính phủ của cụ Trần Trọng Kim được thành lập, đặt tên nước là Đế Quốc Việt Nam. Tên nước này rất kệch cỡm, và chỉ tồn tại được hơn 5 tháng, đến tháng 8 năm 1945, chính phủ cụ Trần Tọng Kim sụp đổ, tên nước này cũng chấm dứt tồn tại.
      • Việt Nam. Tên nước Đại Việt tồn tại dài nhất, suốt gần 1000 năm, từ năm 1054 nhà Lý, đến thời nhà Nguyễn năm 1802. Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, chính thức thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đó, nước ta lần thứ hai có tên Việt Nam.

Sau này tên nước Việt Nam ta có trở lại tên cũ Đại Việt hay không, và Hà Nội có trở lại tên cũ là Thăng Long hay không, điều này còn tùy ở tình hình lịch sử nước nhà sau này.

Nhưng tôi nghĩ trở lại tên cũ Đại Việt thì không cần thiết, vì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt tên nước ta là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rồi, và tên Việt Nam cũng đã trở nên quen thuộc trong nước Việt Nam ta, cũng như trên thế giới rồi. Điều chính yếu là làm sao cho dân được ấm no, hạnh phúc, tự do, dân chủ, “sánh vai được với các cường quốc năm Châu”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn.

Nhưng về tên Thăng Long của thủ đô Hà Nội, thì tôi thấy có thể lấy lại tên này được, nếu được đông đảo nhân dân đồng ý. Vì Nhà nước Việt Nam ta vào năm 2010 đã cho kỉ niệm 1000 năm Thăng Long, từ đó, cái tên Thăng Long trở nên quen thuộc với người Việt Nam ta, và với thế giới. Trở lại tên Thăng Long là sự nối tiếp lịch sử và văn hóa Việt Nam ta từ thời vua Lý Thái Tổ, vị vua đã cho dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình về Thăng Long ngày nay vào năm 1010, cách đây hơn 1000 năm.

Còn như tên nước Việt Nam, như tôi đã nói ở trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt tên nước như vậy rồi, thì không nên thay đổi.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

hochiminhbao.com


Recent Posts
Sài Gòn xưa


Hà Nội xưa