hochiminhbao.com
               Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai-Lời vua Lý Thái Tông
       Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc-Lời tướng Trần Hưng Đạo
        Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc thì phải đàn hặc ngay-lời vua Lê Lợi
                                  Cán bộ là công bộc của dân-Lời Hồ Chí Minh
   Việc gì lợi cho dân, thì phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh-Lời Hồ Chí Minh
                          Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam-Lời Hồ Chí Minh
                 Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân-Lời Nguyễn Trãi

Sau ngày 30 tháng 4

Chúng ta đã đánh Mỹ đến mức họ phải chịu xuống thang chiến tranh, phải chịu ký Hiệp định Pari năm 1973, là đã đạt được cái oai danh là “một dân tộc nhỏ mà chiến thắng một đế quốc to, hùng mạnh nhất thế giới”.

Thế là vinh quang lắm rồi.

Và nếu quân đội Sài Gòn không phá Hiệp định, và Hiệp định Pari năm 1973 được thực hiện, vẫn duy trì 2 nước Việt Nam: nước Việt Nam Cộng hòa tư bản, tự do ở miền Nam, và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, thì tình hình Việt Nam ta ngày nay sẽ như thế nào nhỉ?

Thì Việt Nam ta sẽ như hai nước Bắc Triều Tiên, và Hàn Quốc, như hai nước Đông Đức, và Tây Đức chăng?

Ôi, không, thế thì thật kinh khủng cho số phận người miền Bắc Việt Nam chúng ta.

Thật may mắn cho người miền Bắc Việt Nam chúng ta, là Chính quyền Sài Gòn cũ đã phá Hiệp định Paris, nên buộc quân đội miền Bắc phải Giải phóng miền Nam, và dẫn đến ngày chiến thắng 30 tháng 4 oanh liệt, và người miền Bắc chúng ta không bị số phận hẩm hiu như nước Bắc Triều Tiên tội nghiệp ngày nay.

Thế nhưng sau Chiến thắng ngày 30 tháng 4 oan liệt đó, không phải mọi việc ở Việt Nam ta đều tốt đẹp cả. Cũng có nhiều đau thương và nước mắt chẳng kém gì khi còn chiến tranh.

*****************

Hiệp định Pari về hòa bình ở Việt Nam được ký kết tại Pari-Pháp, ngày 27 tháng 1 năm 1973, giữa bốn bên:

  • Việt Nam dân chủ cộng hòa (miền Bắc),
  • Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam VN (miền Nam, của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát),
  • Chính phủ Việt Nam cộng hòa (miền Nam, của ông Nguyễn Văn Thiệu),
  • và Chính phủ Mỹ.

Theo nội dung Hiệp định này:

Điều 9: Khoản a: “Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, và phải được tất cả các nước tôn trọng”.

Điều 11: “Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam sẽ:

-Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cam mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia;

– Thực hiện hòa hợp, và hòa giải dân tộc, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do hoạt động chính trị, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản, và quyền tự do kinh doanh”.

Điều 15: “Việc thống nhất hai miền Nam-Bắc sẽ được thự hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình, trên cơ sở bàn bạc, thỏa thuận giữa miền Bắc và miền Nam VN, không bên nào được cưỡng ép, hoặc thôn tính bên nào,,,”.

Thế nhưng như đã nói ở trên, thật may mắn là quân đội Sài Gòn cho phá Hiệp định, nên buộc chúng ta phải đánh họ và dẫn đến  “ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4 năm 1975 oanh liệt”.

Sau ngày chiến thắng 30 tháng 4 đó, chúng ta thấy có chuyện gì xảy ra?

Thứ nhất, chúng ta bị mất quần đảo Hoàng Sa

Chúng ta có thể thấy ngay được, là nếu Hiệp định Paris được thực hiện, thì người bạn nhớn phương Bắc không thể chiếm được quần đảo Hoàng Sa của chúng ta.

Chúng ta đã biết ngày 19 tháng 1 năm 1974, Hải quân Trung Quốc đã tấn công chiếm quần đảo Hoàng Sa do quân đội Sài Gòn kiểm soát. Người bạn nhớn phương Bắc đã chọn rất đúng thời cơ, là khi đó người Mỹ đã rút đi, và quân đội Sài Gòn đang phải lo chống đỡ lại “quân giải phóng”, và sắp thua.

Đây là “cơ hội ngàn năm có một”, không chiếm Hoàng Sa lúc này, thì sau khi Việt Nam đã thống nhất và lớn mạnh, thì sẽ không bao giờ chiếm được.

Chúng ta hãy thử hình dung nếu Hiệp định Pari được tôn trọng, hai miền Nam-Bắc không đánh nhau, thì thử hỏi Người bạn nhớn có chiếm được Hoàng Sa hay không?

Câu trả lời rõ ràng và đanh thép là “Không thể”.

Quân đội ta tấn công quân Khme đỏ

Vì quân đội Sài Gòn khi đó rất lớn mạnh. Toàn bộ vũ khí người Mỹ để lại cho quân đội Sài Gòn khi đó nhiều hơn số lượng mà Mỹ giúp Israel khi đó.

Khi đó thế giới đánh giá quân đội Sài Gòn mạnh thứ 4 thế giới, chỉ sau Mỹ, Nga, Trung Quốc. Và mặc dù quân đội Mỹ đã rút đi theo Hiệp định Pari, nhưng Hạm đội 7, và không quân Mỹ vẫn hỗ trợ quân đội Sài Gòn.

Có thể nói, dân tộc Việt Nam ta, trong suốt chiều dài hơn 4000 năm lịch sử oai hùng, chưa bao giờ bị mất nhiều đất và nhục nhã như thế. Dù nước ta có lúc bị Người bạn nhớn phương Bắc xâm lược, độ hộ, nhưng sau đó dân tộc ta lại anh dũng chiến đấu và giành được độc lập, giành lại được lãnh thổ.

Thế mà giờ đây, chúng ta bị mất biển, mất đảo, và hàng năm bị vẫn bị Người bạn nhớn ra lệnh cấm đánh bắt cá ở ngay trên vùng biển của ta, ngư dân luôn bị đánh, cướp, giết,,,.Và ta vẫn phải cố gắng hô vang khẩu hiệu “gìn giữ 16 chữ vàng”.

Đừng chỉ đổ lỗi cho Chính phủ Sài Gòn cũ đã để cho bị mất quần đảo Hoàng Sa.

Vì hơn một năm sau, họ còn bị mất cả nước về tay Chính quyền cộng sản của ta cơ mà. Nước của họ còn bị mất, huống chi là cái quần đảo xa xôi, nhỏ bé đó.

Cả dân tộc Việt Nam chúng ta khi đó vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 đó, đã ào xuống đường, hoan hô ngày chiến thắng, hoan hô ngày giải phóng, hoan hô nỗi vinh quang “một dân tộc nhỏ, mà thắng được kẻ thù to như Mỹ”.

Nhưng chúng ta đâu có biết rằng ngay sau lưng ta, là nỗi nhục mất biển đảo, nỗi nhục chưa từng có trong 4000 năm lịch sử. Và khi đó, không ai biết, không ai đoán được rằng 2 cuộc chiến tranh biên giới đẫm máu ở biến giới phía Nam với Polpot và ở biên giới phía Bắc đang chờ chúng ta.

Không những thế, năm 1988, ta còn bị mất đảo Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa. 64 chiến sĩ hải quân được lệnh nắm tay nhau, đứng thành hàng ngang để bảo vệ đảo, không mang theo vũ khí.

Lính của Người Bạn Nhớn đâu có thèm để ý đến cái hành vi anh hùng vô ích đó. Chúng xả súng, và chiến sĩ ta chỉ như bia tập bắn cho chúng, và tất cả đã ngã xuống, anh dũng hi sinh, nhưng vô ích, không bảo vệ được đảo Gạc Ma.

Ông cha ta cũng đã từng kiềm chế, không để bị kẻ thù phương Bắc khiêu khích, nhưng không bao giờ bị hi sinh vô ích, đau thương như thế.

Thời nhà Lý, năm 1074, tướng Lý Thường Kiệt còn dám chủ động đưa quân đội tấn công vào đất Bắc, phá tan các cơ sở hậu cần ở vùng Ung Châu, để làm chậm lại âm mưu xâm lược của Người bạn nhớn.

Người Mỹ xâm lược Việt Nam, nhưng họ không lấy tấc đất nào của Việt Nam ta.

Người bạn nhớn phương Bắc, “môi hở răng lạnh”, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, nhưng lấy quần đảo Hoàng Sa của chúng ta.

Kẻ thù nào đáng đối phó hơn?

Quần đảo Trường Sa của chúng ta chưa yên đâu.

Đừng tự ru ngủ rằng ta đang có quan hệ vô cùng tốt đẹp, “16 chữ vàng” với Người bạn nhớn.

Chiến lược tiến ra biển của họ sẽ thất bại, nếu họ không chiếm được vài hòn đảo quan trọng ở quần đảo Trường Sa.

Họ đang phát triển tàu sân bay, tàu ngầm, tên lửa hành trình, tên lửa đạn đạo, máy bay không người lái, bồi đất lấn đảo chẳng phải chỉ để bảo vệ đảo Hải Nam của họ.

Điều thứ hai, chiến tranh biên giới Tây Nam với Polpot.

Ngay sau “ngày giải phóng 30 tháng 4 năm 1975”, thì ngày mồng 4 tháng 5 năm 1975, chỉ sau “Ngày giải phóng” 4 ngày, Polpot đã xua quân Khmer Đỏ đột kích đảo Phú Quốc. Và 6 ngày sau, quân Polpot đã tấn công đảo Thổ Chu, tàn sát toàn bộ hơn 500 dân thường trên đảo.

Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam bắt đầu.

Nếu Chính quyền Sài Gòn đứng có phá Hiệp định Pari, khiến cho  Chính phủ Việt Nam cộng hòa không bị đánh đổ, thì quân Polpot ở Campuchia cũng không thể giành được chính quyền ở Campuchia, Chính quyền Lonnon thân Mỹ vẫn tiếp tục lãnh đạo nước Campuchia tự do, và không thể gây ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam.

Chúng ta đã mất 11 năm chiến tranh với Polpot, từ năm 1978 đến năm 1989, đã hi sinh hơn 80.000 chiến sĩ bộ đội, đã ủng hộ Chính phủ ông Hun-xen, nhưng dường như tình hình nước bạn phía Nam vẫn chưa được tốt đẹp.

Campuchia bây giờ là của Người bạn nhớn rồi.

Và từ bây giờ cho đến hàng trăm năm sau, và có thể còn lâu dài hơn nữa, chúng ta sẽ phải luôn đối phó với hai gọng kìm của Người bạn nhớn, từ biên giới phía Bắc quấy phá xuống, và biên giới Tây Nam quấy phá lên.

Trong lịch sử hơn 1000 năm độc lập của ta, kể từ sau khi tướng Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 939, giành được được độc lập cho dân tộc ta, cho đến bây giờ, thì đây là lần đầu tiên, Người bạn nhớn tạo được thế hai gọng kìm một cách vững chắc để khống chế dân tộc Việt Nam nhỏ bé của chúng ta.

Đầu tiên, Người bạn nhớn ngấm ngầm ủng họ Polpot.

Khi quân Khmer đỏ tấn công biên giới Tây Nam của chúng ta giai đoạn 1975, 1976, 1977, 1978, tàn sát nhân dân Tây Ninh, Hà Tiên, chúng ta mới ngã ngửa người ra là toàn bộ vũ khí, đạn dược, cho đến quần áo, giày, dép, mũ,,,của quân Khmer đỏ đều “Made in China”.

Cuộc chiến tranh biên giới Tây-Nam kéo dài hơn 11 năm, mãi đến năm 1989 mới thực sự chấm dứt.

Chúng ta vừa kết thúc 2 cuộc chiến tranh 30 năm – 9 năm với người Pháp, và 21 năm Nam-Bắc đánh lẫn nhau, và đánh nhau với người Mỹ – đáng lẽ dân tộc Việt Nam ta phải được nghỉ ngơi, hưởng hòa bình, thì lại phải lao vào cuộc chiến tranh mới với quân Polpot.

Và đâu phải chỉ có vậy.

Mặc dù cuộc chiến của ta là chính nghĩa, vừa chống kẻ xâm lược Polpot, vừa giúp nhân dân Campuchia đánh đổ được chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, nhưng cả thế giới tẩy chay, cô lập Việt Nam, vì thế giới cho là Việt Nam ta xâm lược Campuchia.

Chúng ta bị người Mỹ cấm vận, và cả thế giới tự do cấm vận theo.

Từ năm 1975, đến những năm 1990, cả nước Việt Nam ta rơi vào khủng hoảng kinh tế-xã hội-chính trị trầm trọng. Cả nước ăn hạt bo bo, xếp hàng mua gạo, mua rau, tem phiếu, và lạm phát phi mã. Năm 1986, khi nước ta bắt đầu Đổi mới, lạm phát tới mức trên 700%.

Đó chính là thời kỳ “bán bò tậu ễnh ương”. Ngày hôm trước bán con bò, ngày hôm sau, số tiền bán con bò chỉ đủ mua con ễnh ương, vì lạm phát phi mã hồi đó.

Khi toàn dân Việt Nam ta tràn xuống đường hoan hô ngày Giải phóng 30 tháng 4 năm 1975 đó, chúng ta không hề biết rằng những nguy cơ của 2 cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, và biên giới phía Bắc đang chờ chúng ta.

Năm 1989, quân đội ta rút hết khỏi Campuchia, thế giới mới dần dần bình thường hóa quan hệ với ta. Và thực sự, quan hệ ngoại giao quốc tế của Việt Nam ta chỉ hoàn toàn bình thường với thế giới sau năm 1995, sau khi Tổng thống Mỹ Bill Clinton quyết định bình thường hóa quan hệ với Việt Nam ta.

Thứ ba, chiến tranh biên giới phía Bắc với Người bạn nhớn.

Sau ngày 30 tháng 4, từ cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam với quân Polpot, ta bị thêm cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc với Người bạn nhớn “môi hở răng lạnh”.

Chúng ta đã biết ngày 23 tháng 12 năm 1978, quân đội ta tổng phản công quân Polpot trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, và truy kích quân Khmer Đỏ vào trong đất Campuchia.

Chỉ sau 3 tuần, quân đội ta đã đánh tan toàn bộ quân đội Khmer Đỏ gồm khoảng 15 sư đoàn, giúp nhân dân Campuchia lật đổ được chế độ diệt chủng Polpot.

Nhưng gần 2 tháng sau, ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc xua 20 sư đoàn, với hơn 400.000 quân tấn công vào toàn bộ 6 tỉnh biên giới phía Bắc của ta, với mục đích “dạy cho Việt Nam một bài học”, và làm ta phải rút quân đội từ Campuchia về để đối phó với Trung Quốc, và như vậy có thể cứu được chế độ Polpot.

Cả hai tính toán trên của Trung Quốc đểu thất bại, vì Trung Quốc không dạy được cho Việt Nam ta bài học nào cả, mà ngược lại, Việt Nam ta đã dạy cho quân đội của người bạn nhớn một bài học, và ta không rút quân từ Campuchia về, ta chỉ dùng bộ đội địa phương, dân quân du kích, và 3 sư đoàn chính quy chống lại 20 sư đoàn của Trung Quốc. Và chỉ sau hơn 3 tuần, Trung Quốc phải rút quân về.

Nhưng dù ta đã chiến thắng quân Trung Quốc vào năm 1979, nhưng cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc cũng còn kéo dài dằng dai suốt 10 năm, và còn bùng nổ dữ dội vào năm 1984, 1985, và kéo dài đến năm 1989, sau khi ta rút hết quân đội khỏi Campuchia.

Như vậy sau ngày giải phóng 30 tháng 4, tưởng rằng dân ta được vui hưởng thái bình sau 30 năm chiến tranh tàn khốc, thì lại phải bị lao vào thêm 2 cuộc chiến tranh đẫm máu nữa, kéo dài 10 năm nữa.

Thứ bốn, Cải tạo Công thương nghiệp, hàng triệu người bỏ nước ra đi.

Sau ngày 30 tháng 4, chúng ta thực hiện ồ ạt Cải tạo Công thương nghiệp, Cải tạo Tư bản tư doanh, khiến cho nền kinh tế cả nước đi vào kiệt quệ, cả nước đói nghèo thêm đói nghèo, và hàng triệu người đã bỏ nước ra đi, gây nên cảnh “thuyền nhân”, “nạn kiều” vô cùng đau thương, hàng trăm ngàn người bị chết trên biển khi bỏ nước ra đi.

Ngày giải phóng mà, sao phải bỏ nước ra đi?

Rất may mắn cho dân tộc Việt Nam ta là đảng ta đã cho Đổi Mới từ năm 1986, nên kinh tế xã hội mới dược phát triển vượt bậc như ngày nay, đời sống nhân dân đã tiến bộ hơn trước nhiều lắm.

Nhưng đồng chí Tổng bí thư-Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nói rất đúng: Chúng ta không được say sưa ngủ quên trên vòng nguyệt quế.

Nếu chúng ta say sưa ngủ quên trên vòng nguyệt quế, không tự sửa mình, không làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, thì chúng ta sẽ lại lặp lại những đau thương như sau ngày 30 tháng 4 đó.///

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

hochiminhbao.com


Recent Posts
Sài Gòn xưa


Hà Nội xưa