hochiminhbao.com
               Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai-Lời vua Lý Thái Tông
       Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc-Lời tướng Trần Hưng Đạo
        Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc thì phải đàn hặc ngay-lời vua Lê Lợi
                                  Cán bộ là công bộc của dân-Lời Hồ Chí Minh
   Việc gì lợi cho dân, thì phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh-Lời Hồ Chí Minh
                          Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam-Lời Hồ Chí Minh
                 Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân-Lời Nguyễn Trãi

Nhà báo Thái Duy và các Chiến sĩ tử tù.

Ở báo Đại Đoàn Kết có nhà báo Thái Duy, là một trong những nhà báo có uy tín nhất trong giới báo chí Việt Nam.

Hiện nay ông đã về hưu. Trong chiến tranh Việt Nam, ông cùng nhiều nhà báo khác vào miền Nam làm phóng viên chiến trường, cùng tham gia các trận đánh với bộ đội để lấy tin viết bài, ca ngợi các chiến công của quân giải phóng.

Nhà báo Thái Duy có bút danh khác là Trần Đình Vân. Với bút danh Trần Đình Vân, ông đã viết tác phẩm Sống Như Anh, viết về liệt sĩ anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, và vợ anh Trỗi, chị Quyên.

Tôi nhớ khi còn học phổ thông, tôi đã được học tác phẩm này. Khi vào làm việc ở báo Đại Đoàn Kết đầu năm 1984, tôi biết nhà báo Thái Duy-Trần Đình Vân cũng làm việc ở đây, tôi thấy rất vinh dự.

Vào dịp Tết năm 1984, khi tôi vừa tốt nghiệp đại học, và vào làm việc ở báo được vài tháng, nhà báo Thái Duy đã viết bài báo nổi tiếng đầu đề “Lòng Dân”, nói về nỗi khát khao của người dân Việt Nam về tự do và dân chủ, về việc người dân mong muốn được đảng và nhà nước quan tâm lắng nghe tiếng nói của họ.

Số báo Tết đó được bán hết rất nhanh, người dân chen chúc nhau đến trụ sở báo Đại Đoàn Kết để hỏi mua số báo đó.

Chỉ sau khi đọc bài báo đó, lần đầu tiên tôi mới hiểu lờ mờ thế nào là nỗi khát khao về tự do và dân chủ.

Trong chiến tranh Việt Nam, và trong thời kỳ bao cấp, nhà báo Thái Duy chủ yếu viết “tô hồng”, ca ngợi.

Thế rồi dần dần ông bắt đầu viết sự thật, viết về nỗi khát khao dân chủ và tự do, viết về tham nhũng, buôn lậu.

Tôi nhớ có một dạo, báo Đại Đoàn Kết tổ chức các cuộc học về nghiệp vụ làm báo, các nhà báo nổi tiếng của các báo được mời đến báo Đại Đoàn Kết giảng bài về cách viết báo, về chủ đề của báo chí,,,.

Khi đó, nhà báo Thái Duy có một buổi giảng bài về “viết tô hồng”, và “viết sự thật”. Các nhà báo trẻ chúng tôi ngồi háo hức nghe, nhưng không có mấy ai dũng cảm dám viết sự thật như nhà báo Thái Duy.

Có lần khác, báo Đại Đoàn Kết mời bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đến trụ sở báo nói chuyện.

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã học ở Pháp 30 năm, sau đó, nghe theo lời kêu gọi của Cụ Hồ Chí Minh, đã về nước làm việc phục vụ cách mạng.

Trong lần nói chuyện đó, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện nói báo Đại Đoàn Kết cần dũng cảm nói đến “sự hấp dẫn chính trị”.

Thế nhưng chẳng có mấy ai dám nghe theo lời khuyên này của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Nhiều tờ báo giờ đây chủ yếu đi theo các sự hấp dẫn đời thường “cướp-giết-hiếp”, vừa hấp dẫn, câu khách, bán được báo, vừa an toàn.

Vào năm 1987-1988, khi tôi đang làm phóng sự điều tra về vụ Đồng Tiến, Hải Hưng, nay là tỉnh Hưng Yên, thì nhà báo Thái Duy bắt đầu viết loạt bài báo về “Những chiến sĩ tử tù”.

Trong chiến tranh Việt Nam, chính quyền Sài Gòn cũ đã bắt được rất nhiều người cộng sản, hoặc người có cảm tình với cộng sản, những người trong phong trào sinh viên. Nhiều người trong số này bị chính quyền Sài Gòn cũ kết án tử hình, một số đã bị xử bắn, một số đang ngồi tù chờ ngày bị đưa đi xử bắn.

Và rất may, chiến tranh đã kết thúc năm 1975, các “tử tù” này được cứu thoát.

Thế nhưng các chiến sĩ kiên cường cách mạng này, những người cả đời sẵn sàng hi sinh cho đảng, sau khi được cứu ra khỏi nhà tù của chính quyền Sài Gòn cũ, thì rất nhiều người- không phải tất cả- lại bị lãng quên, cuộc sống vô cùng cơ hàn, nghèo khổ.

Chính quyền Cách mạng không hề đoái hoài tới số phận nghèo hèn của nhiều Chiến sĩ tử tù.

Ông Thái Duy đã huy động những người hảo tâm giúp đỡ các “chiến sĩ tử tù”, và viết một loạt các bài báo đăng trên báo Đại Đoàn Kết nói về thảm cảnh của các “chiến sĩ tử tù”, yêu cầu chính quyền phải quan tâm giải quyết.

Nhiều người “tử tù” nói rằng thực ra họ không đòi hỏi gì nhiều, vì họ hiểu “đất nước đang còn khó khăn”, mà họ chỉ có một mong mỏi là được ra thăm Hà Nội, thủ đô của cả nước, và được vào Lăng viếng Bác Hồ.

Trong suốt cuộc trường kỳ kháng chiến 21 năm, và nếu tính cả 9 năm chiến tranh với người Pháp, tổng cộng là 30 năm chiến tranh, nhiều người Việt Nam đã đi theo đảng cộng sản chỉ vì có hình ảnh Bác Hồ, và hình ảnh Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước. Thế nhưng khi đó, chiến tranh đã kết thúc hơn 10 năm, mà họ vẫn chưa được ra Hà Nội thăm Lăng Bác. Đó là nguyện vọng cuối cùng và thiêng liêng của họ. Những con người này cũng chân thành, tốt bụng, và ngây thơ như bố chị Châu trong câu chuyện tôi nêu trên ở Cần Thơ.

Sau một loạt các bài báo của nhà báo Thái Duy, Nhà nước Việt Nam ta bắt đầu quan tâm đến thân phận của những chiến binh dũng cảm trong chiến tranh, mà nay đã bị bỏ rơi.

Các “chiến sĩ tử tù “ được tập hợp lại, được đưa ra Hà Nội, được đi thăm Lăng Bác, được Nhà nước trợ cấp các phúc lợi xã hội cần thiết.

Báo Đại Đoàn Kết cũng tổ chức một buổi đón tiếp long trọng các chiến sĩ “tử tù”.

Tôi đã được gặp các Chiến sĩ tử tù này ở báo Đại Đoàn Kết. Nhiều người cũng chỉ còn lại 2 cái răng, như vị Phó Chánh Thanh tra tỉnh Hậu Giang nọ.

Dù sự sửa sai có muộn mằn, nhưng cũng là một việc làm tốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với những người có công với nước.

Và sau đó là chính sách trao tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”- những bà mẹ có từ 2 con hi sinh trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Những “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” được Nhà nước tặng “Nhà tình nghĩa”, nhà xây, cấp không mất tiền cho các Bà mẹ, tặng Sổ tiết kiệm với vài triệu đồng, thuốc chữa bệnh,,,.

Sự sửa sai khá muộn mằn, nhưng có còn hơn không.

Nhiều Bà mẹ đã chết trước khi có chính sách này. Nhiều nhà tình nghĩa được xây qua quýt, mới ở được vài tháng đã hỏng, dột, tường nứt, nền nhà bị lún,,,.

Báo chí, trong đó có báo Đại Đoàn Kết lại đăng các bài tố cáo các “ngôi nhà tình nghĩa dởm” này, yêu cầu chính quyền giải quyết, và kỷ luật người xây nhà làm ăn dối trá, làm cho nhiều “Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng” đã điêu đứng càng thêm điêu đứng, vì lại phải đi vay mượn tiền để sửa chữa những ngôi nhà tình nghĩa dột nát, xuống cấp đó.

Nhà báo Thái Duy là nhà báo đầu tiên ở Việt Nam viết về các mô hình làm ăn mới khi còn chưa có chính sách “đổi mới” ở Việt Nam. Nổi tiếng nhất là loạt bài về “Cơ chế Long An”, nói về tỉnh Long An đã dám “vượt rào”, tức dám không thực hiện một số chính sách hà khắc của Nhà nước, tự mình thực hiện một số chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế.

Ở đâu, ở xã hội nào, quốc gia nào cũng có các nhà báo đạo đức xấu, trình độ kém, viết bài xuyên tạc sự thật, viết vì tiền, hoặc hèn nhát, không dám viết sự thật, chủ yếu viết câu khách các chuyện cướp-giết-hiếp.

Nhưng cũng có những nhà báo dũng cảm, tài giỏi, dám viết sự thật, dám tự chịu trách nhiệm, không sợ các thế lực đe dọa. Theo tôi, báo Đại Đoàn Kết ở Việt Nam là một trong những tờ báo đã từng có nhiều nhà báo tài giỏi, dũng cảm, như Thái Duy, Lửa Mới, Xuân Thu,,,,

Những nhà báo trẻ chúng tôi đã học được rất nhiều từ nhà báo Thái Duy, nhất là về sự dũng cảm, sự chính xác, không viết sai sự thật, bảo đảm sự khách quan, và dám tự chịu trách nhiệm của người cầm bút.

Ông cũng khuyến khích chúng tôi phải tự học nhiều, đừng có chỉ giữ khư khư mớ kiến thức học được ở trong các trường đại học.

“Một nhà báo có tri thức nghèo nàn, thiếu hiểu biết, thì sẽ chỉ là kẻ tôi đòi cho người khác sai khiến mà thôi”, ông nói với chúng tôi.

Đó là người thày đầu tiên, và cũng là người thày lớn nhất của tôi trong nghề báo.///

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

hochiminhbao.com


Recent Posts
Sài Gòn xưa


Hà Nội xưa