hochiminhbao.com
               Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai-Lời vua Lý Thái Tông
       Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc-Lời tướng Trần Hưng Đạo
        Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc thì phải đàn hặc ngay-lời vua Lê Lợi
                                  Cán bộ là công bộc của dân-Lời Hồ Chí Minh
   Việc gì lợi cho dân, thì phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh-Lời Hồ Chí Minh
                          Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam-Lời Hồ Chí Minh
                 Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân-Lời Nguyễn Trãi

Nghĩ về “Tiếng chuông kêu oan”

Trong lịch sử, cha ông ta đã có nhiều phương cách để giải quyết khiếu nại, tố cáo, oan sai cho nhân dân. Vua Lý Thái Tổ, là vị vua đầu tiên của nhà Lý, đã cho xây cung Long Đức ở ngoài Hoàng thành Thăng Long, cho thái tử Lý Phật Mã ở, để thái tử gần dân, “ý muốn cho thái tử hiểu biết mọi việc của dân”.

Thái tử Lý Phật Mã lên làm vua, là vị vua hiền Lý Thái Tông, rất chăm lo việc giải quyết khiếu kiện, oan trái cho dân. Vào năm 1040, vua Lý Thái Tông đã giao việc xét xử kiện tụng của dân cho đích thân Thái tử Khai Hoàng Nhật Tôn, là con trai trưởng của vua Phật Mã, dùng điện Quảng Vũ của Thái tử làm nơi cho Thái tử xử kiện cho dân. Vua Lý Thái Tông đã chú ý chuẩn bị cho con mình sau này lên làm vua, phải là ông vua anh minh, gần dân, hiểu dân.

Thế mà sau này, cụ Ngô Sĩ Liên đã có lời bình rất vô duyên như sau, coi rằng “việc xử kiện không phải là chức phận của thái tử”. Chắc là cụ Ngô Sĩ Liên chưa bao giờ bị oan khuất, nên cụ mới nói câu nói rất quan liêu như thế.

Năm 1042, vua Lý Thái Tông cũng cho xây dựng bộ luật Hình Thư đầu tiên của nước ta, quy định phân minh các việc xử phạt, tránh việc làm tùy tiện, nhũng lạm, gây ra oan trái cho dân của các quan lại. Luật Hình Thư quy định người tố cáo đúng tệ nhũng lạm của các quan lại, được “tha phu dịch cho cả nhà trong 3 năm. Người ở kinh thành mà cáo giác thì thưởng cho bằng hiện vật thu được”. Tiếc rằng bộ luật Hình Thư của nhà Lý đến nay đã thất truyền, chỉ còn lại bộ luật Hồng Đức thời nhà Lê sau này.

Đến năm 1052, vua Lý Thái Tông cho đúc chuông lớn đặt ở cung Long Trì, trong khu vực Hoàng thành Thăng Long ngày nay, để cho dân ai có oan ức không bày tỏ được thì đánh chuông ấy để tâu lên”. 

Chính vua Lý Thái Tông cũng là vị vua đã cho xây chùa Một Cột, còn gọi là chùa Diên Hựu vào năm 1049.

Đến năm 1158, vua Lý Thần Tông cũng “cho đặt cái hòm đồng ở giữa sân để ai có việc gì thì bỏ thư vào hòm ấy”. “Giữa sân” ở đây tức là giữa sân chầu, giống như trong Phủ Chủ tịch nước ngày nay, hoặc trong Văn phòng Chính phủ ngày nay, để cho dân có oan khuất được trực tiếp đến gửi đơn, trình bày.

Đến thời chính quyền cách mạng ngày nay, Bác Hồ cũng rất quan tâm đến giải quyết khiếu nại, oan trái cho dân. Năm 1945, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đã xảy ra nhiều vụ oan khuất của dân, do cán bộ Nhà nước các cấp gây ra. Nhất là ở vùng Liên Khu 4, tức là vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, nơi quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và là cái nôi của cách mạng Việt Nam.

Vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh phải viết bức gửi đồng bào Liên khu 4, để chấn chỉnh tệ bắt bớ, gây ra oan khuất của nhân dân.

Nguyên văn Thư này như sau:

“ Nước ta là một nước dân chủ, phải giải quyết các oan khuất của dân

Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Liên khu 4.
(Nhờ UBKCHC Liên khu chuyển)

Đồng bào thân mến,

Từ ngày kháng chiến đến nay, đồng bào mọi nơi đã cố gắng và đang cố gắng làm tròn nhiệm vụ người công dân với Tổ quốc.

Phần đông cán bộ thì tận tuỵ, biết gần gũi dân, đoàn kết dân, học hỏi dân, và lãnh đạo dân thi đua làm mọi công việc kháng chiến.

Nhưng tiếc rằng ở một vài nơi, cán bộ làm sai chỉ thị của Chính phủ và đường lối của Đoàn thể. Họ xa rời nhân dân, không hiểu biết nhân dân. Làm việc thì chỉ dùng mệnh lệnh, chứ không biết tuyên truyền cổ động, giải thích cho mọi đồng bào hiểu rõ và vui vẻ xung phong làm. Thậm chí họ dùng những cách ép uổng, cưỡng bức, bắt bớ dân.

Nghe các ông thanh tra báo cáo lại những việc đó, tôi rất đau lòng! Dù Chính phủ đã ra lệnh trừng trị những cán bộ đó, tôi phải thật thà xin lỗi những đồng bào vì những cán bộ sai lầm mà bị oan ức. Tôi thật thà tự phê bình khuyết điểm của tôi – là giáo dục và lựa chọn cán bộ chưa được chu đáo.

Các cấp liên khu và tỉnh cũng phải chịu một phần trách nhiệm vì thiếu sót sự kiểm tra chặt chẽ các cán bộ cấp dưới.

Tôi lại xin nói với đồng bào:

Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm. Khắp nơi có đoàn thể nhân dân, như Hội đồng nhân dân, Mặt trận, Công đoàn, Hội nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, v.v.. Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với Chính phủ.

Khi ai có điều gì oan ức, thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy. Cũng như tất cả công dân Việt Nam đều phải hiểu rõ và làm tròn nghĩa vụ kháng chiến cứu quốc.

Tôi mong rằng: từ nay các cán bộ đều biết phê bình và tự phê bình, đều cố gắng sửa đổi lối làm việc, theo đúng đường lối của Chính phủ và Đoàn thể, hợp với lòng dân. Cán bộ cấp trên phải luôn luôn đôn đốc và kiểm tra công việc cán bộ cấp dưới. Nhân dân thì giúp Chính phủ và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ.

Như vậy, thì chúng ta tránh khỏi nhiều khuyết điểm, phát triển được nhiều ưu điểm, thực hiện đầy đủ nhiệm vụ tổng động viên để chuyển mạnh sang tổng phản công, kháng chiến sẽ mau đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

                                                     Chào thân ái và quyết thắng

                                                      HỒ CHÍ MINH”

 Hồ Chí Minh: Toàn tập,  t.6, tr. 65-66.

Sau đó, trong các đợt cải cách ruộng đất sai lầm năm 1954, 1955, 1956, nhiều người dân bị oan đã gửi đơn thư trực tiếp lên Bác Hồ, xin được giải quyết.

Thông tri của Ban Bí Thư số 37/TT-TW ngày 29 tháng 6 năm 1956 đã nói về việc này như sau:

-“Từ trước đến nay, nhất là từ ngày hòa bình lập lại, có rất nhiều đơn khiếu nại của cá nhân và đơn vị gửi Hồ Chủ Tịch xin xem xét những điều thắc mắc. Số đơn gửi đến ngày càng nhiều, có tháng có tới trên 80 cái,,,Để giải quyết các đơn đó, theo chỉ thị của Trung ương, ở Văn phòng Chủ Tịch phủ đã tổ chức một bộ phận, có nhiệm vụ: – Kịp thời nghiên cứu các đơn khiếu nại, đề đạt ý kiến với Hồ Chủ Tịch…, – Theo dõi cách giải quyết của các cơ quan và địa phương.”

Thông tri 37 nói trên đã yêu cầu các cơ quan, địa phương phải liên hệ chặt chẽ với Văn phòng Chủ Tịch phủ để điều tra, xét xử các đơn khiếu nại, và phải “chú ý giải quyết các đơn khiếu nại đã gửi đến cấp mình phụ trách cho kịp thời, để đương sự khỏi phải kêu lên Hồ Chủ Tịch.”

Đảng và Nhà nước Việt Nam ta ngày nay cũng đã có nhiều cố gắng giải quyết oan sai, khiếu kiện của nhân dân. Nhưng không phải mọi việc đều dễ dàng.

Hiến pháp 1992 đã quy định việc giải quyết khiếu nại tố cáo của nhân dân, tại điều 74. Nhưng phải 6 năm sau, Luật Khiếu nại tố cáo mới được Quốc hội thông qua, vào ngày mồng 2, tháng 12, năm 1998. Và thêm gần 5 năm nữa, Ủy Ban thường vụ Quốc hội mới ban hành Nghị quyết số 388/NQ ngày 17 tháng 3 năm 2003, về việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan.

Và phải  tới 1 năm sau, thì đến ngày 25 tháng 3 năm 2004, các ngành liên quan mới ban hành Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT để hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết 388 nói trên. Quá trình ban hành luật pháp để giải quyết các oan trái của dân quả là không đơn giản.

Còn vấn đề thực hiện các luật pháp đó, chắc là còn không đơn giản hơn nữa.

Những người lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương phải có tấm lòng thương yêu dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh, như vua Lý Thánh Tông, Lý Thái Tông, Trần Nhân Tông, tướng Trần Hưng Đạo, vua Lê Lợi,,,thì mới thấu hiểu nỗi khổ oan trái, phải đi khiếu kiện của dân như hiện nay.///

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

hochiminhbao.com


Recent Posts
Sài Gòn xưa


Hà Nội xưa