hochiminhbao.com
               Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai-Lời vua Lý Thái Tông
       Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc-Lời tướng Trần Hưng Đạo
        Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc thì phải đàn hặc ngay-lời vua Lê Lợi
                                  Cán bộ là công bộc của dân-Lời Hồ Chí Minh
   Việc gì lợi cho dân, thì phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh-Lời Hồ Chí Minh
                          Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam-Lời Hồ Chí Minh
                 Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân-Lời Nguyễn Trãi

Kỉ niệm với tàu sân bay Midway

*Trần Thị Khánh Vân

Viết cho hai con và người bạn đời của tôi.
Thân tặng tất cả bạn bè mà tôi đã quen biết trong 30 mươi năm trời lưu lạc
To America, the country I have grown to love.

                                      *************

Cuối cùng tôi cũng đã trở lại… Chiếc Hàng Không Mẫu Hạm USS Midway nằm ngạo ngễ trong Vịnh San Diego như chờ đón tôi về, để đưa ký ức tôi đi trở lại ba mươi năm cũ, trong một chuyến viễn du đầy nước mắt , tan tác , cam go, nhưng cũng không thiếu ngoạn mục. 

Như một vị Tướng gìa đã về hưu, trên người đeo đầy huy chương và mề đay của các chiến công lẫy lừng. Từ  Đệ Nhị Thế Chiến, quần thảo  với Hải Quân và Không Quân Nhật Bản, đến Chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, và sau cùng là Chiến tranh giải phóng Kuwait, trong Chiến dịch Bão Cát Sa Mạc.  Bị thương tích nhiều lần và đã được sửa chữa không biết bao nhiêu lần để rồi cuối cùng, vì tuổi tác , mệt mỏi , được về hưu, nằm nghỉ ngơi ở Cảng San Diego của miền Nam California hiền hòa, nắng ấm.
 
Riêng tôi, chiếc USS Midway đã để lại trong lòng những cảm kích sâu xa, vừa thân ái, vừa nhớ nhung.  Tôi có cảm tưởng được về thăm lại ông bạn gìa ân nghĩa  năm xưa.  Tôi muốn được ngồi xuống cạnh ông để nghe ông nói.  Giọng ông thật trầm ấm, không vội vã, và ông đã từ tốn kể  cho tôi nghe về  những chiến tích oai hùng của một thời vang bóng.   Chuyện mà lúc nào tôi cũng thích nhất là kỷ niệm của tôi với ông, đã tình cờ gặp nhau trong những ngày cuối tháng 4 tan tác của 30 năm về trước.

Năm 1972 chính phủ Hoa Kỳ bày ra cái gọi là “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”.  (Vietnamization) để tiện bề ký Hiệp Ước Paris với Cộng Sản Bắc Việt . Cố-vấn Quân Sự và các viên chức hành chánh sẽ phải rút về Mỹ, để trao toàn gánh nặng chiến tranh cho người Việt Nam.  Cũng vào năm ấy,  nhờ có một ít vốn liếng Anh Ngữ nên tình cờ tôi được tuyển chọn vào Cơ quan Viện Trợ Quốc Tế Hoa Kỳ (USAID) . Họ huấn  luyện cho tôi và một số người trẻ tuổi khác trở thành “Thơ-ký Thượng thặng” (Admin. Assistant / Executive Secretary) để phục vụ trong văn phòng quan trọng của Cơ quan USAID thay thế cho các  Thơ-ký người Hoa Kỳ.

Sau 10 tháng huấn luyện miệt mài tôi bắt đầu chính thức làm việc cho USAID vào giữa năm 1973.  Tôi được bổ vào làm việc cho Chương trình “Phát Triển Kinh Tế Hậu Chiến” (Post War Economic Development Program ).  Tôi thích chí lắm vì được tham gia vào những Chương trình cải tiến đường xá, cầu cống, v.v…    Bắt đầu từ Thành phố Đà-Nẵng trở xuống miền Nam.  Đầu óc ngây thơ, nông cạn của tôi nghĩ rằng chiến tranh sẽ chấm dứt và nước VN đau khổ của tôi sắp sửa được sống trong thanh bình ,thịnh vượng.  Chương trình Phát Triển Kinh Tế Hậu Chiến đúng là một cơ hội hiếm có cho tôi được góp phần vào việc xây dựng đất nước.  Tôi cảm thấy mình vô cùng may mắn !

Đầu năm 1975 tình hình nước VN nói riêng và Đông Dương nói chung thình lình thay đổi nhanh chóng.

Tôi nhớ rõ những biển chuyển khủng khiếp đã liên tiếp xảy ra chỉ trong vài tháng đầu năm.  Bắt đầu bằng sự rút lui của người Mỹ ra khỏi Cam Bốt.  Người dân Cam Bốt đã hốt hoảng bỏ chạy Cộng Sản Pôn Pốt.  Người Việt Nam lúc đó đã ái ngại cho số phận của ngườidân xứ láng giềng .  Họ đâu ngờ chỉ trong hai, ba tháng sau đó miền Nam Việt Nam từ Quảng Trị, Đà-Nẵng, Huế, Nha Trang, Saigòn, Cần Thơ, Cà Mau và những miền duyên hải cũng đã quay cuồng và đảo điên trong cơn lốc di tản của lịch sử.

Khắp mọi nơi, hàng trăm ngàn người đã chen lấn, xô đẩy nhau để chạy trốn.  Lo âu hoảng hốt đã hiện rõ trên nét mặt mọi người.  Gia đình tôi cũng ở trong tình trạng này.  Ngày 26 tháng 4 gia đình tôi được lên danh sách di tản do Cơ quan USAID đảm trách.  Mấy ngày trước đó, chúng tôi đã căn dặn nhau mỗi người chỉ được đem theo 1 va ly nhỏ và một ít dollars để phòng thân, chuẩn bị người Mỹ đến nhà đón đi.

Có vài người bạn tôi đã đi trước chúng tôi vài  ngày.  Tôi và gia đình trong lòng như lửa đốt.  Đêm tôi ngủ không dám chợp mắt vì mong đợi tới phiên mình.  Lâu lâu trong đêm tôi lại nghe tiếng thở dài não ruột của mẹ, cha , anh, chị và em tôi.  Ai cũng im lặng, lo lắng không biết ngày mai sẽ ra sao.  Đi đâu ? Về đâu  ? Làm sao mà sinh sống ? Ở lại với Cộng Sản được ư ?  Cha mẹ và các anh chị lớn của tôi đã từng nếm mùi Cộng Sản!  Họ đã bỏ cả tài sản , cơ nghiệp lại miền Bắc để di cư, chạy trốn  vào Nam năm 1954.

Sáng ngày 27 tháng 4 tôi trở  lại sở USAID ở đường Lê-văn-Duyệt để nghe ngóng.  Đa số viên chức Mỹ đã lên đường về Mỹ (sau này tôi mới biết họ đã sang đảo Guam và đảo Wake ở Thái Bình Dương để lo việc di tản cho người Việt Nam).

Tôi và một số nhân viên người VN ở lại được lệnh tiêu hủy các giấy tờ còn lại.  Tới  5 giờ chiều, chúng tôi vẫn ở dưới phòng để cho các hồ sơ gọi là “MẬT” vào máy cắt vụn.  Thình lình tôi nghe thấy bên ngoài những tiếng nổ lớn như tiếng bom.  Hình như máy bay đã thả bom ở gần đâu đó.  Chúng tôi hốt hoảng nằm sát xuống sàn nhà ẩn núp.  Mọi người nép sát vào nhau và không biết phải làm sao.  Tôi nhớ rõ trong căn phòng nhỏ dưới hầm của cơ quan USAID lúc đó có tôi, hai người bạn gái đồng nghiệp tên Châu Thuận Anh, chị Phạm thị Mỹ, và ông Ron Pollock là ông xếp trực tiếp của cô bạn gái, Trịnh thị Phương Dung đã ra đi từ hôm trước.  Tất cả chúng tôi 4 người ở đây một thời gian khá lâu.  Chúng tôi không dám ra ngoài đường vì nghe radio nói Dinh Độc Lập đã bị trúng bom và lệnh giới nghiêm 24/24 được ban hành khẩn cấp.

Thế là chúng tôi  không có cách nào trở về nhà được nữa !

Cho tới nửa đêm ông Ron Pollock đề nghị mọi người lên xe của ông để về khu riêng cho viên chức Mỹ ở gần đó để lánh nạn.  Xe của ông có mang số T (Ngoại Giao) nên ông hy vọng sẽ không bị làm khó dễ.  Chúng tôi theo ông về một building ở gần Dinh Độc Lập (không nhớ rõ ở đâu).  Ngoài đường đêm tối vắng hoe không một bóng người.

Cả đêm tôi và các bạn lên sân thượng để theo dõi những trái hỏa tiễn của Việt Cộng bắn vào phi trường Tân Sơn Nhất và thành phố Sài gòn.  Lửa cháy, khói mù  mịt khắp nơi, nhất là phía phi trường.  Nước mắt tôi tuôn rơi không ngừng.  Lòng tôi rối bời vì biết rằng cơ hội ra đi không còn nữa.  Tôi chỉ mong trời mau sáng để tìm cách trở về nhà với gia đình tôi.

Sáng hôm sau, ông Ron Pollock bảo chúng tôi hãy đợi thêm một vài tiếng vì lệnh giới nghiêm vẫn còn hiệu lực.  Tôi nhận thấy có thêm 4 cô gái  khác cũng đã có mặt ở đây.  Tôi nghĩ chắc ho cũng là nhân viên USAID.  Tất cả chúng tôi đều lo lắng và không biết phải làm gì.  Tôi nhớ ông Pollock gọi điện thoại cho ai không biết,  nhưng sau đó ông bảo tình hình lúc đó khẩn cấp lắm rồi.  Ông e ngại cũng bị kẹt lại như chúng tôi !

Ông chậm rãi bảo ba người chúng tôi, Châu Thuận Anh và chị Mỹ đã có thể tìm cách về nhà tuỳ ý hoặc lên xe của ông để đến một địa điểm di tản (Evacuation Location). Hình như ông đã biết sẵn những chỗ này trước, nên ông có vẻ rất bình tĩnh.  Lúc ấy tôi  mới nhận thấy ông Pollock thật là phúc hậu và đáng kính phục, vì ông không ích kỷ lo cho riêng cá nhân ông mà thôi.  Ông đã lo lắng cho cả bảy nhân viên của ông, những người Việt Nam xa lạ, không bà con gì với  ông.

Cả 7 người chúng tôi đều quyết định lên xe để ông đưa đi  đâu thì đi.  (Châu Thuận Anh bằng tuổi tôi, chị Mỹ lớn hơn chúng tôi 3-4 tuổi gì đó.  Còn 4 nguoi kia tôi không nhớ rõ tên tuổi).  Khi ra tới cổng và đường cái, chúng tôi đã không ngờ cảnh hỗn loạn đã diễn ra khắp nơi.  Chẳng ai để ý đến luật giới nghiêm nữa.  Mọi người cuống cuồng trên đường phố, hớt hãi lo tìm đường chạy.  Xe cộ bí lối vì những rào cản dựng lên ở nhiều ngã đường!

Trên đường đi, thấy chúng tôi ngồi chung xe của Bộ Ngoại Giao Mỹ, nhiều người đã tỏ vẻ giận dữ, chỉ chỏ vào chúng tôi.  Có người còn liệng đá vào xe chúng tôi và chưỉ rủa dữ dội.  Chúng tôi sợ hãi ngồi nép sát vào nhau.  Ông Pollock lúc nào cũng giữ vẻ bình tĩnh và im lặng lái xe đưa chúng tôi đi.

Nơi chúng tôi đến đầu tiên là Tòa Đại Sứ Mỹ, cách đó không xa.  Thật không thể tưởng tượng được cả nhiều ngàn người đang chen lấn, xô đẩy ở ngoài cổng để mong vào được bên trong .  Tôi thấy vài người lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đứng trên nóc Tòa Đại Sứ và trên hàng rào,một  tay cầm súng, và tay kia kéo từng người vào.  Người ta chen lấn, xô đẩy, đè lên nhau trong cơn hoảng hốt tột cùng.  Ông Pollock quyết định không vào đó nữa và  sau đó ông chở  chúng tôi đến một địa điểm khác.  Tôi không biết địa điểm này ở đâu, nhưng tôi đã chứng kiến tận mắt  cảnh tượng  1 chiếc trực thăng đậu trên nóc một building nhỏ, và một dây người nối đuôi nhau, chen lấn để lên được chiếc trực thăng này.  Ông Pollock lắc đầu,và  quyết định bỏ đi đến một địa điểm khác.  Sau này, tôi đọc báo mới nhận ra cảnh tượng hốt hoảng này được đăng tải nhiều lần trên tất cả báo chí và truyền hình Mỹ.  Tôi cũng thấy hình ảnh này được ghi lại trong các tài liệu lịch sử Chiến tranh Việt Nam của Mỹ.

Đến được địa điểm thứ ba…thì.không thấy một bóng người.  Thì ra người Mỹ đã  bỏ rơi địa điểm này.  Không hiểu tại sao ?

Sau cùng ông Pollock bảo chỉ còn cách tự lái xe  ra phi trường Tân Sơn Nhất để vào căn cứ DAO, là một căn cứ hành quân của lính Mỹ.  Ông Pollock cố gắng len lỏi qua những con đường đầy người chạy loạn.  Thì ra mọi người cũng đôn đáo chạy tìm địa điểm để di tản như chúng tôi !

Khi gần tới cổng Phi Long thì xe phải ngừng hẳn  vì cổng đã bị rào cản ngăn gần hết lối vào.  Một người lính Việt Nam cầm súng tiến lại gần chúng tôi.  Anh lính VN chỉ mặt ông Pollock và hằn học nói 1 câu tiếng Anh  “You Amerian….you sold our country.  We hate you!”  Lòng tôi đau như cắt!  Nước mắt tuôn rơi!  Phải, người Mỹ đã bán đứng miền Nam của tôi.  Tôi sinh ra ở đất Bắc, nhưng tôi đã lớn lên và đã yêu mến miền Nam như tất cả những người miền Nam hiền lành chân thật.  Trong lòng tôi thật căm hận!

Nhưng ông Pollock vẫn bình tĩnh và  nhỏ nhẹ xin lỗi anh lính Việt Nam.  Anh lính kéo rào cản lại, ngăn hết cổng để ông không vào được nữa.  Ông Pollock quyết định quay xe trở ra và bắt đầu di chuyển băng qua một cánh đồng hoang ở gần phi trường.  Lúc đó hỏa tiễn pháo kích của Việt Cộng bắn tứ phía.  Có lúc rơi rất gần chúng tôi.  Vào tới phi trường TSN tôi thấy cảnh tượng đổ nát, cháy khắp nơi.  Có nhiều chiếc xe hơi, xe gắn máy, xe Jeep, xe nhà binh quăng bỏ ngổn ngang.  Chúng tôi đã đi dưới lằn  đạn pháo kích.  Lúc ấy tôi chẳng thấy sợ hãi một chút nào.  Tôi nghĩ mình đang đi trong một giấc mơ hãi hùng.  Và giấc mơ đó sẽ tan đi sau khi tôi thức dậy.

Tới được cổng DAO tôi thấy có nhiều trực thăng Mỹ và lính Thủy Quân Lục Chiến đổ xuống bên trong.  Tôi và các bạn, cùng ông Pollock xuống xe, nhào xuống một cái rãnh nước nhỏ gần sát cổng để ẩn nấp vì đạn pháo kích nổ rát tai.  Có vài anh lính Mỹ chỉa súng lên trời , đang ẩn nấp và la hét inh ỏi.  Tôi thấy một anh lính trẻ măng vì sợ qúa đã tiểu ướt ra quần, trong khi anh vẫn ôm súng la hét, chạy qua lại như đang ở trên chiến trường.

Một lúc sau, khi pháo kích giảm xuống một chút thì chúng tôi được TQLC Mỹ cho vào cổng và  mọi người hối hả chạy theo nhau.  Lúc ấy tôi mới nhận ra nhiều ngàn người đủ mọi quốc tịch Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Đại Hàn, v.v..cùng gia đình của họ đã sắp hàng dài cả cây số ở bên trong.  Cũng có rất nhiều người Việt Nam cũng chạy được vào đây.  Mọi người đều sắp hàng rất có trật tự.   Tôi thấy rất nhiều đồ vật như valy, xách tay, máy ảnh, radio, TV và có cả nồi cơm điện, các thứ linh tinh mà người di tản đem theo đều bị bắt buộc phải bỏ lại.  Chẳng ai thèm nhặt lấy.  Thì ra trực thăng Mỹ không muốn chở nặng, nên bắt buộc tất cả mọi người di tản chỉ được cầm theo 1 xách tay rất nhỏ mà thôi.  Tôi chỉ có một chiếc áo dài đang mặc trên người.  Không có 1 hành lý nào!

Cuối cùng tôi và các bạn tôi cũng được lên chiếc trực thăng Chinook khổng lồ.  Ngồi ép xuống sàn của trực thăng, tôi thấy lòng ngổn ngang như tò vò.  Thế là tôi đã bỏ đất nước ra đi!  Gia đình tôi không biết giờ này ra sao ?  Lúc đó tôi chỉ muốn nhảy xuống biển vì lòng tôi tan nát rã rời .  Tôi không nói một lời với ai vì tôi biết tất cả mọi người cũng ở trong tâm trạng hoang mang đau xót như tôi.

Khoảng hơn nửa tiếng sau (lâu lắm tôi không nhớ rõ) chiếc trực thăng chở  chúng tôi đến một Hàng Không Mẫu Hạm rất lớn mà tôi được biết đó là chiếc MIDWAY.  Ông Pollock đã nói với chúng tôi là Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ đã chuẩn bị sẵn ở ngoài khơi  vài ngày trước và người Mỹ đã biết trước cuộc di tản vĩ đại  này.

Vừa bước ra khỏi chiếc trực thăng để đứng trên HKMH Midway, tôi thấy có cả trăm người khác đã và đang đổ xuống trước chúng tôi.  Cảnh tượng lúc ấy cũng hỗn loạn nhưng không thê thảm bằng lúc ở Tòa Đại  Sứ Mỹ vì có cả trăm lính TQLC Mỹ đứng ra giữ trật tự.  Chúng tôi đứng dưới hangar thật lâu để được ghi danh sách trước khi qua một tàu buôn lớn khác mà Chính phủ Mỹ đã thuê sẵn đậu ở ngoài khơi vùng biển VN.  Tôi không thấy ông Pollock đâu nhưng sau đó ông đã trở lại tìm chúng tôi.  Ông nói yêu cầu chúng tôi giúp Hải Quân Mỹ làm thủ tục, danh sách cho người di tản vì thủy thủ Mỹ không biết tiếng Việt nên rất lúng túng và mất thì giờ, làm việc lâu lắc.  Chúng tôi đồng ý và công việc của chúng tôi bắt đầu ngay tức khắc.

Một dãy bàn đã được sắp sẵn ở bên hông tàu.  Chúng tôi ngồi cạnh những người lính Hải Quân để giúp họ viết tên tuổi của tất cả những người di tản vào một cuốn sổ.  Mỗi người cũng được dán trên người một mảnh giấy viết tên họ của mình.   Trong khi làm việc, chúng tôi kêu đói và khát qúa nên được các lính Mỹ mang cho mỗi người một hộp đồ ăn và tiếp tục làm việc cho đến tối.  Hôm ấy là ngày 28 tháng 4, 1975.

Tối hôm đó, tôi được biết ông Pollock đã từ chối đi theo các nhân viên Ngoại giao khác lên máy bay để được chuyển qua Phi Luật Tân.  Ông đã quyết định ở lại để đi chung với chúng tôi. Có lẽ ông muốn trở thành một trong những người di tản đặc biệt, của một cuộc Chiến tranh Việt Nam tàn khốc với kết cục bi thảm và vô lý.

Làm việc tới nửa đêm thì chúng tôi đều mệt lả.  Một Sĩ quan Mỹ được lệnh đưa chúng tôi đi nghỉ ngơi.  Chúng tôi phải leo lên, leo xuống, len lỏi qua những lối đi quanh co, nhỏ hẹp ở trên chiếc Hàng Không Mẫu Hạm.  Một lúc sau chúng tôi đến một phòng khách rất đẹp, dù không lớn lắm.  Sàn được trải  thảm và  trang trí rất lịch sự  không khác gì  những phòng tiếp tân sang trọng ở khách sạn .  Chúng tôi ngồi đứng tần ngần ở đấy vài phút thì thấy một Sĩ quan khá lớn tuổi bước ra chào.  Sau vài lời giới thiệu của ông Pollock, chúng tôi được biết vị Sĩ quan này chính là ông Phó Đề Đốc Hạm Đội của nhóm Hàng Không Mẫu Hạm Midway.  Ông ta trịnh trọng mời chúng tôi xuống phòng khách của ông và tỏ ý muốn nhường phòng ngủ của ông cho ba đứa chúng tôi ngủ qua đêm.  Chúng tôi rụt rè từ chối và xin được ngủ trên những chiếc ghế sa lông lớn ở phòng khách.  Trong phòng có một chiếc truyền hình gắn lên tường để theo dõi trực tiếp việc di tản trên bong tàu..

Đêm hôm đó tất cả chúng tôi nằm lăn ra ghế và ngủ thiếp đi ngay.  Trải qua hơn 30 tiếng đồng hồ căng thẳng thần kinh, cơ thể chúng tôi đều kiệt quệ, nên không ai bảo ai đều thở phào và lòng thầm biết ơn ông Phó Đề Đốc tốt bụng.  Riêng tôi thật biết ơn và cảm phục ông Ron Pollock vô cùng vì ông lúc nào cũng điềm tĩnh và nhân hậu.  Chúng tôi có cảm tưởng ông đã lo lắng cho chúng tôi như một người cha vậy.

Sáng ngày hôm sau, chúng tôi được ăn sáng ở ngay trong phòng kháck. Chúng tôi đã ăn vội vàng vì phải lên tiếp tục làm việc gấp, vì người di tản đến càng lúc càng nhiều.

Tôi nghĩ chắc chắn rằng  việc di tản vẫn tiếp tục cả đêm hôm trước vì người tới vẫn đều đặn.  Chúng tôi lại làm việc suốt ngày đêm.  Một số người di tản đến sau chúng tôi đã cho tôi biết Chính phủ Lâm thời Trần văn Hương và Dương văn Minh đã được thành lập để hòa giải với Việt Cộng.  Tôi đâu thèm để ý đến chuyện này vì lòng tôi mong mỏi tìm được gia đình mà thôi .  Tôi hy vọng cha mẹ, anh chị em tôi kiếm được đường chạy và tôi sẽ tìm ra họ.  Tôi vừa làm việc vừa khóc liên tục.  Nhiều anh lính Mỹ tỏ vẻ tội nghiệp cho chúng tôi.  Có mấy anh lính cho  chúng tôi địa chỉ ở Mỹ và căn dặn liên lạc với gia đình họ để được giúp đỡ.  Tôi ừ ào cho qua chuyện.  Làm việc cho tới nửa đêm chúng tôi xin được đi nghỉ vì mọi người đã mệt lả.

Sáng sớm hôm sau trời còn tờ mờ sáng, ông Pollock đã đánh thức chúng tôi dậy rửa mặt, làm vệ sinh và được ăn sáng ở ngay phòng khách của ông Phó Đề Đốc.  Hai người lính Mỹ đã đem đồ ăn sáng đến phục vụ chúng tôi chu đáo.  Chúng tôi vừa ăn, vừa dán mắt trên máy TV để theo dõi những diễn tiến đang xảy ra trên bong tàu.

Thật không thể tưởng tượng được!  Thì ra  từ sáng sớm đã có hàng  trăm chiếc trực thăng của Không Quân VN đã và đang ào ạt bay đến  xin được đáp xuống chiếc Midway.  Còi hụ báo động liên hồi và các lính Hải Quân của Hạm Đội chạy tứ tung để cứu giúp những người phi công VN.  Họ đem theo gia đình, con cái, bạn bè…  Nét mặt họ đầy nét hốt hoảng và tuyệt vọng.  Khi những chiếc trực thăng này đáp xuống và mọi người ở trên trực thăng nhào xuống hết lập tức có một nhóm lính Mỹ chạy tới đẩy chiếc trực thăng này sang một góc.  Trực thăng đến nhiều như những đàn chuồn chuồn từ từ tiến về phía Hàng Không Mẫu Hạm Midway.  Chúng tôi ai nấy đều há hốc mồm ra để theo dõi cảnh tượng không tiền khóang hậu trong lịch sử này.  Có một chiếc máy bay nhỏ 4 người (sau nay tôi được biết là chiếc Cessna) cũng xin được đáp xuống.  Chiếc máy bay Cessna này đã bị từ chối và buộc  phải đáp xuống biển . Người ta thả cả chục chiếc phao xuống biển ,và nhiều người lính Hải Quân Mỹ nhảy xuống theo để cứu người phi công và gia đình anh kịp thời.  Một lúc sau, tôi nhận thấy tất  cả những chiếc trực thăng VN đều được dọn qua một bên hông tàu và được đẩy luôn xuống biển, không khác gì những món đồ chơi bằng nhựa bị người ta vứt bỏ đi.

Ông Pollock thúc dục chúng tôi ăn sáng xong, để lên hangar tàu làm việc tiếp.  Tôi được biết là tất cả mấy ngàn người di tản hôm qua đã được trực thăng chuyển qua  những chiếc tàu buôn gần đó, mà ngày hôm sau chúng tôi cũng sẽ được đưa tới.  Nhưng đó là một chuyện khác mà tôi sẽ kể lại sau ( Bút ký 13 ngày trên biển ).

Làm việc ở dưới hangar,  nên tôi không được chứng kiến cảnh trực thăng ào ào đến nữa.  Hôm đó là ngày 30 tháng 4.  Các ông Không Quân và gia đình họ cho chúng tôi biết thêm tin tức mới nhất là Chính phủ Lâm thời Dương văn Minh đã buộc phải đầu hàng Cộng Sản Việt Nam, Và Sàigon lúc đó đang ở trong một cơn lốc kinh hoàng  hỗn loạn.

Sau đó không biết mấy giờ, chúng tôi được đưa xuống phòng để ăn trưa.  Rất nhiều lính Mỹ đã có mặt ở đây.  Vì có máy truyền hình để giữa phòng, nên chúng tôi lại được theo dõi tiếp những chiếc trực thăng di tản của những người phi công Việt Nam đã một thời chiến đấu oai hùng.  Giờ đây tất cả đều đã tả tơi và rũ rượi như những con chim bị thương  và không có chim đầu đàn. Thật là đau xót và buồn thảm !

Hạ cánh khẩn cấp!    Bất thình lình còi hụ lại báo động liên hồi.  Tôi nghe trên loa phóng thanh, người ta ra lệnh cho một máy bay nào đó không được đáp xuống sân tàu vì không còn đủ chỗ nữa.  Vài giây sau, trên màn ảnh TV hiện ra một chiếc máy bay cũng nhỏ như chiếc Cessna hôm trước.  Chiếc máy bay này nhất định không chịu đáp xuống biển.  Mấy người lính Mỹ cho chúng tôi biết rằng viên phi công Việt Nam đã đem theo vợ, con và anh nói nếu phải đáp xuống biển thì mọi người sẽ chết hết.

Tình hình thật căng thẳng và nguy ngập.  Viên phi công Việt Nam cứ bay vòng vòng ở trên chiếc Hàng Không Mẫu Hạm  Midway và muốn trực chỉ đáp xuống phần phi đạo còn lại nhỏ xíu trên tàu.  Cuối cùng, ông Hạm trưởng  Hàng Không Mẫu Hạm phải nhượng bộ cho phép đáp khẩn cấp.  Còi lại hụ liên hồi  thật đinh tai nhức óc.  Trên màn ảnh vô tuyến, chúng tôi thấy rất nhiều lính Hải Quân đã chuẩn bị cấp cứu vì tai nạn khủng khiếp có thể xảy ra trong nháy mắt.  Người ta chạy tới chạy lui, la hét om xòm như đang chuẩn bị giao chiến.   Tôi thấy các vòi chữa lửa được kéo ra và hình như có một tấm lưới lớn cũng được chuẩn bị giăng ra ở giữa bong tàu.

Thật là tài tình!  Chiếc máy bay của viên phi công Việt Nam hạ cánh xuống thật  nhẹ nhàng và ngừng lại sát nút trước ngay vạch đường kẻ, kế bên  đài quan sát trên cao, ở giữa tàu.  Mọi người vỗ tay hoan hô không ngớt.  Cả phòng ăn của chúng tôi cũng ồn ào như chợ vỡ.  Họ phục tài đáp máy bay của viên phi công Việt Nam  qúa cỡ !  Trên màn ảnh truyền hình, tôi thấy nhiều người lính Hải Quân Mỹ chạy tới để giúp đỡ, mở cửa máy bay cho viên phi công vừa hạ cánh.  Chàng phi công Việt Nam  trông rất còn trẻ tuổi.  Anh đỡ vợ, con, nhẹ nhàng đưa xuống.  Người ta nhào tới chụp hình và bắt tay anh.  Tôi thấy cả ông Hạm Trưởng chiếc Midway cũng chạy ra bắt tay anh như thán phục một người hùng Không Quân của thế chiến.

Tôi đã quên mất mình cũng đang là một kẻ di tản.  Tôi cười thở phào khoan khoái như chính bản thân mình được thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

Chúng tôi lại trở về  chỗ làm việc như cũ.  Khi chiều xuống, trực thăng tới ít hơn.  Lâu lâu mới có một vài chiếc lẻ tẻ bay đến.  Chúng tôi được một Sĩ quan Mỹ dẫn đi xem hầu hết mọi nơi của chiếc Hàng Không Mẫu Hạm Midway nổi tiếng này.  Lúc ấy tôi mới nhận thấy sự vĩ đại của nó.  Giống như một trại lính nhỏ.  Ngoài những chiếc máy bay chiến đấu và trực thăng còn có nhiều chiếc xe nhỏ chạy tới, chạy lui.  Các phòng ngủ chật chội , thấp hẹp.Giường ngủ kê sát nhau như những chuồng gà. Thăm cả phòng làm việc của lính Hải Quân, chỗ chơi, giải trí, nhà bếp ..v.v.  Cuối cùng, chúng tôi được đưa tới khúc đằng sau của hangar.  Trong một góc khá lớn, có một chiếc trực thăng duy nhất đã  đậu sẵn.  Chiếc này trông rất đẹp và  sạch sẽ và đã được người ta giăng giây thừng ở vòng ngoài để không cho ai tới gần.

Tôi không hiểu tại sao họ lại đưa chúng tôi tới xem chiếc trực thăng này.  Khi tới gần, vị Sĩ quan mới cho  chúng tôi biết đó chính là một trong những chiếc trực thăng đầu tiên đáp xuống Mẫu Hạm Midway và người lái chiếc này không ai xa lạ, chính là Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Cựu Phó Tổng Thống VN Cộng Hòa!  Thì ra ông Kỳ cũng là một phi công “thượng thặng” nên ông đã bay ra đây sớm nhất !  Sau này tôi được biết chiếc trực thăng đẹp đẽ này là tặng vật của Tổng Thống Mỹ Gerald Ford, tặng cho Tướng Kỳ trước đó không lâu.

Tối hôm đó, chúng tôi được  ông Phó  Đề Đốc đãi ăn chung với ông.  Ông tặng chúng tôi mỗi người một cái bật lửa Zippo có khắc hình chiếc Hàng Không Mẫu Hạm – USS Midway.  Ông còn viết cho chúng tôi, mỗi người một lá thư cảm kích, để giới thiệu với những người mà chúng tôi, nếu cần sẽ được giúp đỡ.  Tôi đã cất kỹ hai thứ này như những kỷ vật vô gía.  Chúng là những con dấu chứng nghiệm một sự đổi đời của tôi.

Sau đó tám người chúng tôi được đưa đến một  chiếc trực thăng đã chờ sẵn.  Lòng tôi bồi hồi xúc động.  Chiếc trực thăng cất cánh….từ từ xa dần chiếc Hàng Không Mẫu Hạm đầy ắp những kỷ niệm mà chỉ hơn hai ngày trước đó tôi đã không bao giờ ngờ tới.  Lúc ấy tôi không biết chiếc trực thăng này sẽ đưa chúng tôi đi đâu.  Nhưng mặc kệ, tôi thấy mình cũng giống như một chiếc lá nhỏ  bị đưa đẩy cuốn bay  theo chiều gió.  Năm ấy tôi vừa tròn  24 tuổi.
English version

(Theo trang Web Batkhuat)

After all these years I returned to visit my old friend – The USS Midway Aircraft Carrier!  Its defiant grandeur was calling me back as if it wanted me to embark on an unsettling journey to the past.  Just like an old general whose life is decorated with glorious medals and wartime achievements – the USS Midway has reigned over battles in World War II, Korea and Vietnam, and participated in the liberation of Kuwait.  With countless injuries and innumerable repairs, this old aircraft carrier is now decommissioned.  She has been retired to San Diego Bay and now nests in the warm sunshine and soothing waters of southern California.

The USS Midway brings incredible nostalgia to my heart.  I wish to sit down next to my old friend and ask her to tell me the stories from her past…..   With her deep voice she slowly recalls one of the stories that I treasure the most – the story that had happened to me some 30 years ago this very month of April.

—-***—-

In January 1973, the US Government and the North Vietnamese Communists had signed a so-called “Vietnamization” Agreement in Paris.  The infamous “Agreement” intended, in American eyes, to bring an honorable peace in Viet Nam – a cease-fire and a troop withdrawal.   Most of the American troops, officers and office employees were to be replaced by the Vietnamese.  A year before that I was lucky to be selected among 12 other young Vietnamese women who had to go through 10 months of business and government office procedures training.  We were to become administrative assistants / executive secretaries.  Most importantly, we needed to replace the American secretaries in all of the USAID offices.

By the end of 1973, I officially began to work for USAID and was assigned to a project called “Post War Economic Development”.  I was extremely excited since I would be directly involved in the operations of re-building all the infrastructures of Vietnam – roads, bridges, and highways.

I worked devotedly and energetically thinking that we were already at the end of the war.  My beloved country, Vietnam, would have peace again after more than a half century of war.  I was too naïve in believing that I would be a contributing factor to the efforts of rebuilding my country.   I was in luck!

In 1975 the situation in Indochina began to change rapidly, started with the withdrawal of the American troops from Cambodia and Laos.  In the first few months of 1975, we had witnessed the Cambodian people, in haste and in chaos, fleeing their country.  We, the people of South Vietnam, felt badly for our neighbors but we also felt somewhat confident that the South Vietnamese troops still could still defend us and the Americans would never betray us.  Little did we know but in just a few months the South Vietnamese people would begin to experience the same fate.  From Quang Tri, Da-nang, Hue, Nha Trang, Saigon, Can Tho as well as in all other coastal cities, people were fleeing and abandoning their homes.   The people of South Vietnam got sucked into the whirlwinds of chaos and fear of the Communists.

In the midst of February 1975, thousands and thousands had made their way from the northern most cities of South Vietnam to the central cities of Da-Nang, Hue and Nha-Trang.  People clung on to the helicopters and boats and ferries in the rivers and in the oceans to come down to Saigon as well as to the southern most cities.   The Viet Cong were coming!  The enemy was coming!

The people in Saigon were in the same fear.  Everyone was trying to find a way out of the country.  My family found itself in the same situation.  My brothers were in Army, Navy, and Air Force.  Before 1954, my father had been in prison for several years and tortured by the North Vietnamese communists.  In our family, he was the most worried and terrified.  We also had to run – but where?

Since I was an employee of the US Government, my family and I were on a list of those who would be evacuated by the Americans.  We were told to wait for our time to leave.  A few days earlier, we each prepared by packing a few bags and a little money. Some of my co-workers had already left the country. Those of us remaining were anxiously waiting – waiting for our time.  At night we could not sleep for fear that the South would collapse at any time and that we would be left behind forever.  At times in the middle of the night, I could hear deep sighs coming from my mother, my father, and my brothers and sisters.   Every one was silent yet troubled and worried.  Those were the emotions of the known present and of the unknown future.   Should we stay?  Should we leave?

The morning of April 27th I returned to my office to wait for instructions and, hopefully, news of being evacuated.  Most of the Americans had left the country.

A few Vietnamese employees and I remained behind to shred all “Classified” documents.  At about 5:00 p.m. we suddenly heard a few loud noises.  Something sounded like bombings.  All of us became terrified.  We ran down to the basement of the building and hid there for several hours.  My girl friends and co-workers Chau thuan Anh and Pham thi My and an American officer, Mr. Ronald Pollock also hid with me.  (Ron Pollock was a direct boss of my friend Trinh thi Phuong Dung who had left Viet Nam earlier that day)

Listening to the radio news we learned that the near-by Presidential Palace had been bombed.  A 24-hour curfew was also declared and anyone found on the street without proper identifications and without duty papers would be shot.   There would be no way for me to make it home that night.

At about midnight Ron urged us to go with him in his car to a nearby American complex where he lived.  Since his car had a diplomat’s license plate, he hoped we could avoid security checks and get us safely to his compound.  The streets were all very dark and there was no sign of disorder whatsoever!   We continued in Ron’s car to his complex.

During the night we all went up to the complex roof top and witnessed the fall of Saigon.  North Vietnamese rockets were firing every where.  Fires and smoke were imprints on the dark sky.  We could see the terrible scenes of a dying city.  Several big fires were spotted coming from the Tan Son Nhut Airbase where we were  supposed to be taken for our evacuation.  Tears welled in my eyes.  I cried silently.  The hope of escape for my family and for me had vanished.  All I wanted at that moment was for the morning to come quickly so that I could find a way home.

Early the following morning Ron told us to wait for a few more hours since the curfew was still in effect.  We all worried about our fate. We did not know what to do.  I remember Ron had made a phone call to someone and then he told us the bad news.  The situation was getting worse.  Remember, he was one of the people left behind – just like us.

Patiently and slowly he told us to find our own way home.  The other option was to once again get into his car with him and he would attempt to take us to one of the evacuation locations.  Ron seemed confident that everything would be all right and that he could take us to a safe place.  I also remembered seeing 4 other young women who perhaps had been there the night before.  They must have also worked for the USAID Agency.  I realized at that instant that our American boss was so very kind and unselfish.  He was not a bit worried about himself.  He was ready to take care of us – the Vietnamese young women who had no relationship with him.

All seven of us decided to go with Ron.  My friend Chau thuan Anh was my age and Pham thi My was a few years older.   I don’t remember names and ages of the other 4 young women.   We all climbed into Ron’s car and he began to drive us to the main streets.  Chaos, beyond our wildest imagination, was everywhere.  People were running in every direction.   Traffic was at its worst.   Roads in all directions were blocked by barricades.  No one seemed to observe the curfew.

Some people saw our diplomat’s car with an American driver.  Several people angrily pointed at us and threw rocks, hitting the car.  We were  all frightened and nestled against each other.  Ron continued to keep his calm as he managed to weave through the waves of mad people running for their lives.

We arrived at the US Embassy.  There were several US Marines as well as helicopters on the rooftop.  A few US Marines were on the walls of the closed gates.  There were thousands of Vietnamese outside of the gate.  People were screaming, hustling and crying.  They all tried to push each other aside for the chance to get inside.  I saw that some people were being hoisted by the Marines to get inside the gate.

“No chance for us,” Ron said.  He decided to go to the next location. Where it was I can’t remember but the horror I shall never forget.  There was a small building complex with a very small landing roof top that was just big enough for a small helicopter.  A helicopter was already waiting.  I could see a string of people climbing and pushing each other upward to get to the helicopter.  Ron again decided to leave that place.  Later on, when I read the newspapers, they had captured the picture of the exact scene that I had witnessed.  That scene of desperation was repeatedly shown on TV, in history books and documentaries about the end of the war.

The third location was empty when we arrived.  Ron said he believed the Americans must have abandoned the location.  He did not know why.  He then said that the only way out was to drive to Tan Son Nhut Airbase where all the rockets were being fired. We had to make our way to the US Defense Attache Office (DAO Compound).   Ron tried to inch his way through the fleeing crowds.

As we got close to the Phi-Long Gate at the entrance to the Tan Son Nhut Airport, we were stopped by a Vietnamese soldier.  The solder pointed his gun at Ron and angrily said in his broken English, “You American.  You sold our country.  We hate you!”  I sobbed quietly.  The soldier was right!  The Americans had betrayed us.  They had run away and abandoned us when we were so close to winning the war.  Why?  I could find no answer.   My heart was full of  rage and hatred.

To our surprise, Ron gently apologized to the soldier.  The soldier refused to accept Ron’s apology and pushed the barricade tighter against us and completely blocked the entry into the airport.   Fury lined the soldier’s face.  Ron calmly made his U-turn and went a different way.  He began to cross a rough and treacherous abandoned field.  We went across the field under the firing rockets coming from all directions and through the burning fires.  Some rockets hit close to us.  As we got inside the airport, we saw destruction and chaos everywhere.  There were several abandoned jeeps, trucks, cars, and motorcycles on the streets.  Some were still on fire.  Some got hit by rockets and were turned upside down.  A few soldiers and pilots were running to their planes.  I did not know why, but I did not feel any fear at all.  It was as if I was in a dream — and this bad dream would go away when – and if — I woke up.

We finally arrived at the US  DAO Compound.  There were so many Chinook helicopters bringing hundreds US Marines to this location.  This must be a major evacuation spot. We were safe!  We were almost out of here!

Ron and all of us got out of the car.  The rockets were  still firing not too far from us.  We jumped into a shallow ditch near the gate trying to shield ourselves.  I saw several young Marines holding their guns, running about.  Some got behind the gate.  Some jumped into the same ditch with us.  They were all yelling at us and at each other.  I saw a very young Marine who had wet his pants  in fear – but he was still yelling and screaming like a trained soldier.

It seemed like a long time before the rockets would quiet down a little bit and we were ordered to run to the gate of the DAO Compound as fast as possible.  We all ran behind a young Marine who took us inside.  At that time I realized there were already hundreds or thousands of people already there.  There were all sorts of nationalities – American, French, British, German, Korean, etc.  All had come in with their families.  There were a lot of Vietnamese, too.  People had lined up in good order for what seemed like a mile.  The Marines surrounded us as if to protect us.  I saw hundreds of people’s belongings, luggage, and cameras all abandoned.  The Marines did not want the helicopters to carry too much weight.  I had nothing to leave behind.  All I had was the traditional Vietnamese dress (ao-dai) that I had put on the day before.

Finally my friends and I were allowed to get onto the Chinook — along with at least fifty more people.  All of us had to sit on the floor.  I was stricken with grief.  I did not say a word to my friends since I new everyone was burdened with the same sadness.

After half an hour of flying over the ocean I saw a gigantic ship in the distance.  As the Chinook got closer, Ron told us that giant ship was the USS Midway.  We landed on the middle of flight deck.  Ron had told us that the Midway belonged to the Seventh Fleet and had been commissioned to support the evacuation.  The Midway and other aircraft carriers had waited in the Pacific Ocean outside of the Vietnam coast for several days.  Later I learned that this was called “Operation Frequent Wind”.

As soon as we landed, I noticed hundreds of people, now evacuees, had arrived before us.  The scene was chaotic but not as hectic as the one at the US Embassy that we saw earlier that day.  Hundreds of Marines kept everyone in order.  We stood there for a long time waiting to be processed through and to be transferred to another cargo ship – at least that was what we were told.  For a moment, Ron disappeared. When he returned, he told us that he would like us to help the Midway Navy officers with the evacuation processing.  Since these officers did not know Vietnamese, they couldn’t pronounce our names and such and would get frustrated.  We agreed and started working immediately.

A row of processing tables had been set up by the side in the hangar bay. We sat by the US officers.  Our work was simply to write the name of each evacuee on a name tag and put it on their chest.  We also copied their names into the registration book for the Midway records.  At one point, the officers noticed that we were all hungry and thirsty.   They brought us some canned foods and sodas.  We continued to work until dark.

That night I realized that Ron had refused to be transferred by another helicopter to the Philippines.  He had decided to stay with us and become one of the evacuees who also fled the country full of destruction and a war full of betrayal.

At midnight all of us were exhausted.  An officer was ordered to show us our sleeping quarters.  We went up and down, out and about, and through the narrow corridors of the Midway carrier.  Finally we reached a place that looked like a reception room.  I noticed the room was beautifully carpeted and decorated with nice furniture like a fine living room.  This was the Admiral’s quarters!   Dumbfounded with shock, we stood for several minutes  until a middle-aged officer came in and approached us.  He shook our hands and introduced himself to us and Ron.  We learned that this officer – and gentleman – was the Commander himself.  (I wish I could remember his name.)   He told us to take it easy and offered us his bedroom for the night.  We shyly refused and asked if we could just use the living room sofas.   That was our first taste of American hospitality.

After more than 30 hours of agonizing and nerve-racking ordeal, we were all exhausted.  We were all so grateful for this sanctuary aboard the Midway.  My heart filled with gratitude and admiration for Ron and all his gentleness and kindness.

The evacuation went on all night.  The next morning there seemed there were more evacuees than the day before.  Later that day, some of the evacuees told us that a coalition government had been established.  Tran Van Huong and General Duong van Minh of South Vietnam would lead the reconciliation talks with the North Vietnamese Communists.  I didn’t care.  All I wanted was to find my family.  I had hoped that my family would find a way to get evacuated and join us later.   I kept those hopes alive for years.  Everytime I met some who knew them, I would always ask – but  there was no sign of them.  Some soldiers kindly gave me their addresses in the United States in the hope that maybe they could help me find them later.

The next morning Ron told us to finish our breakfast quickly.  He then took us back to the hangar to continue our work.  We found out that the evacuees we had processed the day before were already taken onto other Seventh Fleet vessels to make room for the flow of additional refugees.  That day we worked non-stop to process the crowds of refugees.  They were relieved to have found safety, even if they had lost their home.  Exhausted and hungry, they were all fed before being transferred to another vessel.

We spent another night in the Commander’s quarters. Ron woke us up early the following morning and told us to get ready for another day at work.  As we ate breakfast, we watched a large closed circuit TV.  To our astonishment, we saw hundreds of choppers being flown by Vietnamese pilots on the horizon and heading toward the Midway.  One by one they landed.  Sirens screamed as the crewmen frantically pushed aside a few aircraft on the flight-deck.  On the TV screen we saw dozens of crewmen and Marines running towards these choppers to help the pilots and their families.  Anxiety, hysteria and sorrow filled their faces.  As soon as a chopper landed and the passengers jumped off, another group of crewmen would run up to the chopper and push the chopper aside to make room for another one coming in.  In front of our eyes these choppers herded like dragonflies, all swarming on the Midway at the same time.   A four-seated CESSNA attempted to land.  The Midway refused to allow it as there were too many planes on deck and too little room to maneuver.   Left with no choice, the pilot ditched the  plane into the ocean.

Crewmen lowered a boat and pulled the Vietnamese pilot and his family from the water.  Later on, all the Vietnamese helicopters were dumped into the ocean.  Those who had made it to the ship could no longer leave.

That day was April 30, 1975.  We saw only Vietnamese pilots and their choppers arrive with their families.  They also told me that the new coalition government had been forced to surrender to the North Vietnamese Army and Saigon was in the tornado of chaos and everything was total madness.

I did not remember what time we went to lunch.  U.S, sailors and crewmen filled the canteen everywhere.  Again we watched closed circuit TV and again we could see more Vietnamese choppers coming.   Again, the pilots were beat-up and stressed out.  Gone were the glorious days of the flying eagles!   The tears in their eyes revealed their broken spirits.

Suddenly the sirens blared and the loudspeaker frantically announced another emergency on the flight deck.  Another plane was approaching the Carrier and there was no room.  Landing had been denied.   The plane, no bigger than the Cessna of the day before,  paid no attention.  The plane passed over a few times and signaled its intent land. The Vietnamese pilot had his wife and children with him and he did not want to ditch the plane knowing that they would all drown in the water.

The situation grew tense.  Finally the flight crews cleared the deck.  People rushed to the area and prepared for the worst that could happen.   After a couple of harrowing missed attempts, the pilot landed his plane in the exact spot that had been reserved for him.  He then slowed his plane and came to a complete stop just yards from the control tower.  Cheers went up and a loud applause exploded across the ship.  Several crewmen ran to the plane and opened the door.  The Vietnamese pilot gently lift his wife and children off the plane and all were safe and sound.  People rushed up and took pictures while crewmen excitedly shook the pilot’s hand.  The Navy Commander greeted him as if he was a hero of World War II.

I had forgotten that I was a refugee.  I laughed and cheered as if I was the one who had just escaped death.

We all went back to work.  In the afternoon only a few helicopters arrived. An officer invited us to have a grand tour of the Midway.  We went to several decks and the front and back of the carrier.  The ship was so grand, a virtual airbase in operation.  I saw several cars driving around on the hangar.  We were shown sleeping quarters, workrooms, and recreation rooms. All the mattresses were piled on top of each other in countless aisles.  Finally, the officer took us to a large area at the back of the hangar.  A new helicopter was parked alone and roped off.

I did not understand why this helicopter was shown to us.  As we got closer, the officer then told us that this was one of the first helicopters that had landed the day before.  The pilot of this helicopter was none other than General Nguyen Cao Ky, the ex -Vice President of South Vietnam.  It appeared to me that he must have been one super pilot – as he had landed here first!  I remembered just a few days before General Ky had vowed to fight with his troops to the end.  “Let the cowards who are leaving with the Americans go, and let those who love South Vietnam stay and fight!” Ky had proclaimed.   Later on I learned that this helicopter sometime back had been given to Ky by no less than U.S. President Gerald Ford.

That night, our third night on the water, the Commander joined us for dinner.  He gave each of us a Zippo lighter that had been engraved with a picture of the USS Midway.  He also gave us letters of appreciation and commendation.  To this day, I kept these two treasures, cherished mementos of my days of escape.  The escape that has changed my life forever!

Later that night, all eight of us boarded the last helicopter.  We were leaving.   Mixed emotions filled my heart as the helicopter took off, slowly leaving the USS Midway and all its memories.  These memories of a mere 2 days I could never have imagined.  I did not mind.  I felt like I was a little leaf that was drifting along, with the wind carrying me away to wherever it wanted.  That month of April 1975 I had just turned 24!

KV Nguyen
To America, the country I have grown to love

Vietnamese version

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

hochiminhbao.com


Recent Posts
Sài Gòn xưa


Hà Nội xưa