hochiminhbao.com
               Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai-Lời vua Lý Thái Tông
       Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc-Lời tướng Trần Hưng Đạo
        Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc thì phải đàn hặc ngay-lời vua Lê Lợi
                                  Cán bộ là công bộc của dân-Lời Hồ Chí Minh
   Việc gì lợi cho dân, thì phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh-Lời Hồ Chí Minh
                          Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam-Lời Hồ Chí Minh
                 Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân-Lời Nguyễn Trãi

Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không thua kém gì Hiến pháp Mỹ, Pháp, Nhật,,,

,

Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh  Hồ thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Đến ngày mồng 6 tháng 1 năm 1946, Quốc hội đầu tiên của Việt Nam đã được bầu qua cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của cả nước.

Và ngày mồng 9 tháng 11 năm 1946, Quốc hội khóa đầu tiên của Việt Nam đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bản Hiến pháp này chưa kịp được công bố thi hành, thì ngày 19 tháng 12 năm 1946, một tháng 10 ngày sau khi nó được thông qua, người Pháp gây hấn và kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

Trong thực tế, vào thời kỳ đầu những năm 1950, khi chưa có bản Hiến pháp thứ hai năm 1960, bản Hiến pháp thứ nhất 1946 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam thực hiện khá rộng rãi, như năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa vào bản Hiến pháp 1946 để phong chức đại tướng cho tướng Võ Nguyên Giáp.

Hoặc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dựa vào Hiến pháp 1946 để ra các Sắc Lệnh thành lập lực lượng công an, quân đội, thành lập các bộ, các ngành, quyết định về cải cách ruộng đất, quyết định tham gia ký Hiệp định Geneva năm 1954 về hòa bình ở Việt Nam,,,.

Cụ thể, nội dung bản Hiến pháp năm 1946 là như thế nào?

Lời nói đầu của Hiến pháp 1946 chỉ gồm 26 dòng, 235 chữ.

Lời nói đầu của Hiến pháp thứ 2 năm 1960 dài tới 128 dòng, khoảng 1500 chữ.

Lời nói đầu của Hiến pháp thứ 3 năm 1980, sau chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 dài tới 165 dòng và khoảng 1900 chữ.

Hiến pháp hiện hành năm 1992 có 52 dòng và 600 chữ của Lời nói đầu.

Đến năm 2013, Hiến pháp 1992 được sửa đổi một chút, không có nhiều ý nghĩa lắm, được gọi là Hiến pháp 2013.

Lời nói đầu của Hiến pháp Nhật chỉ có 28 dòng, 300 chữ. Lời nói đầu của Hiến pháp Mỹ là ngắn nhất, chỉ có 6 dòng, 70 chữ, và Hiến pháp Pháp là 14 dòng, 90 chữ.

Ngay trong Lời nói đầu của Hiến pháp 1946 đã nói ngắn gọn rằng Hiến pháp phải được xây dựng trên nguyên tắc “đoàn kết toàn dân, đảm bảo các quyền tự do dân chủ, thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân, và dưới một chính thể dân chủ rộng rãi”.

Chính nhờ nguyên tắc “dưới một chính thể dân chủ rộng rãi”, nên Quốc hội đầu tiên của Việt Nam với 333 đại biểu, thì có tới 43% đại biểu Quốc hội là không đảng phái, 70 đại biểu không qua bầu cử của 2 đảng Việt Cách và Việt quốc.

Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1946

Như vậy đại biểu là đảng cộng sản chỉ chiếm không quá nửa thành phần Quốc hội. Nhưng dần dần theo tinh thần ngày càng mất dân chủ của các Hiến pháp sau của Việt Nam, số đại biểu ngoài đảng ngày càng ít đi.

Quốc hội khóa 2(1960-1964), số đại biểu Quốc hội là 362, thì số ngoài đảng chỉ còn 64, đảng viên là 298 người.

Đến Quốc hội khóa 3(1964-1971), 366 đại biểu, ngoài đảng là 71.

Quốc hội khóa 4(1971-1975) 420 đại biểu, ngoài đảng là 103.

Quốc hội khóa 5 (1975-1976), chỉ kéo dài 2 năm để chuẩn bị cho bầu cử Quốc hội cả nước sau khi Việt Nam thống nhất, 424 đại biểu, ngoài đảng 110.

Có thể nói 2 Quốc hội khóa 4 và 5, khi chiến tranh gay go, và khi đất nước mới thống nhất, cần tập hợp đoàn kết các lực lượng, nên đại biểu Quốc hội ngoài đảng được phép tăng lên một chút.

Đến Quốc hội khóa 6(1976-1981) 492 đại biểu, chính quyền đã ổn định, Quốc hội “xây dựng chủ nghĩa xã hội”, thì đại biểu Quốc hội ngoài đảng lại rơi xuống còn 94.

Quốc hội khóa 7(1981-1987) 496 đại biểu, Quốc hội của “công nghiệp nặng đi trước một bước, công nghiệp nhẹ và nông nghiệp đi sau” theo lý thuyết của chủ nghĩa xã hội của Lê-Nin, số đại biểu ngoài đảng rơi xuống còn 61.

Quốc hội khóa 8 (1987-1992) 496 đại biểu, ngoài đảng rơi xuống còn 31 người.

Nhưng Quốc hội hiện nay vừa mới được bầu tháng 5 năm 2016, Quốc hội Khóa 14, đại biểu Quốc hội ngoài đảng còn rớt xuống thê thảm hơn nữa, chỉ có 21 người .

Nếu như Quốc hội khoá 12 có 43 người ngoài Đảng, Quốc hội khoá 13 có 42 người, thì Quốc hội khoá 14 hiện nay chỉ có 21 người (tỷ lệ gần 4%).

Như vậy tinh thần “chính thể dân chủ rộng rãi” của bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 ngày càng bị xa rời, đại biểu Quốc hội là đảng viên ngày càng nhiều lên, đại biểu ngoài đảng ngày càng ít đi. 

Về bố cục, Hiến pháp 1946 có 70 điều, Hiến pháp 1960 có 112 điều, Hiến pháp 1980 có 147 điều, và Hiến pháp hiện hành 1992 cũng có 147 điều.

Hiến pháp Nhật chỉ có 103 điều, Hiến pháp Mỹ chỉ có 7 điều, 20 khoản. Sau đó có thêm 27 điều sửa đổi, bổ sung, gọi là Tu chính án (tu chính án gần đây nhất là năm 1992). Như vậy tổng cộng Hiến pháp Mỹ chỉ có 54 điều, khoản.

Hiến pháp Pháp có 92 điều. Nước Anh không có Hiến pháp, chỉ có Luật Nghị viện, coi như Hiến pháp, chỉ có 11 điều.

Về nội dung, có thể nói Hiến pháp 1946 của Việt Nam rất gần với các Hiến pháp dân chủ khác như của Nhật do Mỹ giúp soạn thảo năm 1946, của Pháp, của Mỹ,,,. Nếu như các bản Hiến pháp Việt Nam năm 1960, 1980, 1992 đều dài, và đầy rẫy các câu “mở trước, rào sau” theo kiểu “công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,,,theo quy định của pháp luật”, tức là Hiến pháp phải tuân theo Luật, thì Hiến pháp 1946 chỉ nói đơn giản, và hết sức rõ ràng, không có câu khóa, gài bẫy “theo quy định của pháp luật”.

Điều 10 của Hiến pháp 1946 quy định “ Công dân Việt Nam có quyền:

-Tự do ngôn luận

-Tự do xuất bản

-Tự do tổ chức và hội họp

-Tự do tín ngưỡng

-Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.”

Chỉ đơn giản như vậy, không giải thích dài dòng tối nghĩa, khó hiểu, cũng không có câu “theo quy định của pháp luật”.

Làm sao mà Hiến pháp phải tuân theo luật được? Luật phải tuân theo Hiến pháp chứ?

Nếu luật phải tuân theo Hiến pháp, thì phải quy định là “Một điều luật sẽ qui định cụ thể cách thực hiện điều này của Hiến pháp”.

Hiến pháp 1992 cũng ghi công dân có quyền tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội (điều 69), tự do đi lại và cư trú trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về” (điều 68), nhưng đều có ghi thêm “theo quy định của pháp luật”.

Như vậy là Hiến pháp phải tuân theo pháp luật, chứ không phải luật tuân theo Hiến pháp.

Thậm chí ở Việt Nam, các quy định của Chính phủ, của các bộ, ngành, của các địa phương đôi khi còn to hơn Hiến pháp.

Ví dụ quy định về quản lý hộ khẩu của Nghị định 51/CP ngày 10/5/1997 của Chính phủ, là một văn bản còn thấp hơn luật, đã hạn chế rất nhiều quyền tự do cư trú và đi lại của công dân theo Hiến pháp.

Hơn thế nữa, Chỉ thị số 27 ngày 26/8/1999 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quy định về nhập hộ khẩu vào thành phố Hồ Chí Minh còn có những quy định bảo thủ hơn Nghị định 57 của Chính phủ, nhằm hạn chế người dân các nơi khác được nhập khẩu về thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy một chỉ thị của địa phương còn to hơn Hiến pháp, thủ tiêu quy định của Hiến pháp về quyền công dân được tự do cư trú và đi lại.

Điều 92 của Hiến pháp 1992 quy định “ Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật”. Nhưng một loạt các quy hoạch sai lầm đang bị báo chí phê phán đã cản trở thực hiện quyền xây dựng nhà ở này. Một loạt các quy định hà khắc về quản lý nhà đất đã ngăn cản người dân có giấy tờ chủ quyền nhà đất hợp pháp, và thực chất đã hạn chế quyền tự do cư trú và quyền có nhà ở do Hiến pháp 1992 quy định.

Ở các nước dân chủ, pháp luật chỉ nhằm thực thi các quy định của Hiến pháp. Không có Hiến pháp của các nước dân chủ nào trên thế giới lại có quy định nội dung của Hiến pháp phải tuân thủ quy định của pháp luật.

Ghi như vậy thì tức là làm vô hiệu Hiến pháp.

Điều 1 tu chính án của Hiến pháp Mỹ ghi rất rõ “Quốc hội sẽ không thảo một đạo luật nào để thiết lập hoặc để cấm đoán tự do tôn giáo; để hạn chế tự do ngôn luận hoặc tự do báo chí; hoặc hạn chế quyền của dân chúng được hội họp ôn hòa và đưa lên chính phủ các điều thỉnh cầu bày tỏ những nỗi bất bình của họ”.

Như vậy Hiến pháp Mỹ nghiêm cấm Quốc hội Mỹ thảo luận về quyền tự do báo chí, vì đó là quyền đương nhiên được công nhận, Quốc hội không có quyền tham gia vào sửa chữa, hạn chế quyền này.

Điều 19 của Hiến pháp Nhật cũng ghi rất đơn giản và rõ ràng “Quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng không bị cản trở”.

Điều 22 Hiến pháp Nhật ghi “Quyền tự do xuất ngoại hay bỏ quốc tịch không bị cản trở”.

Điều 12 của Hiến pháp 1946 quy định “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Chỉ có 13   chữ đơn giản như vậy, nhưng thật đầy đủ, thật rõ ràng.

Hiến pháp 1946 không hề quy định đất đai là thuộc sở hữu nhà nước.

Nhưng điều 58 Hiến pháp 1992 quy định về điều này hết sức rườm rà, công dân tưởng là có nhiều quyền tư hữu, nhưng thật ra có rất ít: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp,,,”.

Thế nào là “thu nhập hợp pháp”?

Chỉ bằng một văn bản luật hoặc dưới luật, người ta có thể kết luận thu nhập, tài sản của bạn là “bất hợp pháp”, và bạn sẽ bị tước đoạt mà không thể cãi vào đâu được.

Điều 15 của Hiến pháp 1946 ghi “Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình nhà nước”. Hiến pháp 1992 không có quy định này. Giờ đây ở Việt Nam người ta chỉ gọi là trường dân lập. Người ta sợ chữ “tư”.

Điều 30 Hiến pháp 1946 ghi “Nghị viện (quốc hội) họp công khai, công chúng được vào nghe”.

Thật là dân chủ. Thật là rõ ràng.

Bây giờ, nhân dân không được vào nghe Quốc hội họp.

Tại sao Hiến pháp 1946 cho phép, mà Hiến pháp 1992 lại không cho phép? Nhân dân vào nghe Quốc hội họp thì có hại cho an ninh quốc gia hay sao?

Điều 33 của Hiến pháp 1946 ghi “ Khi nào 2/3 tổng số Nghị viện đồng ý, Nghị viện có thể tự giải tán”.

Hiến pháp 1992 không có điều này, mà chỉ quy định rất là trong trường hợp đặc biệt, thì “quốc hội có thể quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình” (điều 85).

Hiến pháp 1946 cũng quy định “Nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện”(điều 40), để bảo đảm quyền tự do tranh luận cho các đại biểu Quốc hội trong các kỳ họp Quốc hội.

Các điều này rất giống quy định của Hiến pháp Mỹ, Nhật, Pháp,,,Hiến pháp 1992 không có quy định này. Thực chất các đại biểu quốc hội Việt Nam là đảng viên phải phát biểu và biểu quyết theo hướng dẫn của đảng. Mà hiện nay đại biểu đảng viên chiếm tuyệt đại đa số trong Quốc hội.

Hiến pháp 1946 quy định Chủ tịch nước có quyền chọn Thủ tướng trong các nghị viên (đại biểu quốc hội)(điều 47).

Nhưng với Hiến pháp 1992, thì Chủ tịch nước không có quyền này.

Hiện nay quyền chọn các quan chức cao cấp của nhà nước từ chủ tịch tỉnh, bộ trưởng trở lên đều do Bộ chính trị của đảng cộng sản thực hiện.

Hiến pháp 1946 cũng quy định chỉ có Ủy ban hành chính ở các địa phương, chứ không phải Ủy ban nhân dân như hiện nay. Tên gọi Ủy ban hành chính sẽ thể hiện đầy đủ chức năng hành chính của chính quyền địa phương, chứ không mập mờ, thiếu rõ ràng và giả hiệu như tên gọi Ủy ban nhân dân như hiện nay.

Hiến pháp 1946 không quy định có cấp phường ở các đô thị như hiện nay. Trong thực tế cấp phường là cấp chính quyền không có tác dụng thực tế, và gây rất nhiều phiền nhiễu cho dân. Ở các đô thị, do đặc điểm địa bàn gần, thì chỉ cần cấp quận là đủ. Không có cấp phường, người dân sẽ bớt đi được một tầng nấc “hành dân là chính” không cần thiết.

Hiến pháp 1960 (được Quốc hội thông qua ngày 31 tháng 12 năm 1959) được làm sau khi chiến tranh với người Pháp kết thúc, và Việt Nam đang chuẩn bị đối phó với cuộc chiến tranh với người Mỹ và với chính quyền Việt Nam cộng hòa thân Mỹ, nên nó đã bắt đầu xa rời các nguyên tắc dân chủ, tự do của Hiến pháp năm 1946, bắt đầu trói buộc, bảo thủ, hà khắc. Nhưng nó vẫn còn chịu ảnh hưởng khá rõ nét tinh thần dân chủ, tự do, tôn trọng quyền con người của Hiến pháp năm 1946.

Điều 29 Hiến pháp 1960 quy định “công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước”( điều 29). Nhưng Hiến pháp 1992 quy định công dân chỉ được “khiếu nại, tố cáo ở cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

Người dân Việt Nam bị oan khuất hiện nay rất nhiều, nhân viên nhà nước hư hỏng, tham nhũng, vi phạm pháp luật rất nhiều, nên nhân dân phải đi khiếu kiện tố cáo ngày càng đông. Mỗi năm có tới hàng trăm ngàn lượt người đi khiếu kiện ở tất cả các cấp, các ngành, các địa phương. Nhưng các cơ quan nhà nước luôn bênh nhau, hoặc vô trách nhiệm, không giải quyết, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, nên nhân dân không có cách nào khác là phải tập trung tại nhà các vị cán bộ lãnh đạo để đưa đơn khiếu nại tố cáo, hi vọng được các vị lãnh đạo “đầy tớ của nhân dân” tiếp dân, lắng nghe tiếng nói của nhân dân. Nhưng nay thì cái quyền đó cũng không được nữa, người ta sẽ bắt bỏ tù người dân vì người dân muốn gặp cán bộ lãnh đạo.

Có một số vị đại biểu quốc hội tại kỳ họp Quốc hội hồi cuối năm 2003, đã nêu câu hỏi là:- “Có quốc gia nào trên thế giới này mà cho phép người dân đi đến nhà các vị lãnh đạo khiếu kiện gây mất trật tự công cộng, mất yên tĩnh cho lãnh đạo như ở Việt Nam này không?”

Vị đại biểu Quốc hội này muốn Quốc hội thông qua đạo luật cho phép xử lý người dân khiếu kiện ở nhà các vị “lãnh đạo đầy tớ của nhân nhân”.

Trước khi đặt câu hỏi này, thì các vị lãnh đạo của Việt Nam ta cũng cần đặt câu hỏi là, trên thế giới này có quốc gia nào mà có nhiều người dân bị oan khuất như ở Việt Nam không?

Các vị lãnh đạo ở nhà cao, cửa kín, có bảo vệ, còn người dân ở ngoài vỉa hè, “màn trời chiếu đất”, bỏ nhà cửa, quê hương, đi hàng nghìn km ra Hà Nội để kêu oan, thì họ cũng có ngủ được không?

Hiến pháp năm 1992 quy định người dân bị xử lý oan phải được bồi thường. 11 năm sau, ngày 17/3/2003 Quốc hội Việt Nam mới ra NQ388 về bồi thường cho người bị xử lý oan. Một năm sau, ngày 23/5/2004 các cơ quan chính phủ mới có Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT của Bộ công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ quốc phòng, Bộ tư pháp, Bộ tài chính về thi hành nghị quyết 388 này.

Ông Tổng thống Mỹ Reagan trong suốt nhiệm kỳ làm Tổng thống của ông ấy, ông Reagan đã tiếp dân, và trực tiếp viết thư trả lời cho khoảng 5000 lượt người dân, từ trẻ em đến người già, đầy nhân ái và trách nhiệm.

Ở Việt Nam, thỉnh thoảng các vị lãnh đạo cũng tiếp dân, cũng viết thư trả lời dân, nhưng làm được một cách đầy trách nhiệm, đầy nhân ái, và nhiều như ông Tổng thống Mỹ Reagan thì chưa có vị lãnh đạo Việt Nam nào làm được.

Thực sự nếu như người Pháp nghiên cứu Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam, thì họ sẽ thấy rằng không cần phải mở một cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm, để rồi họ phải thất bại tại trận Điện Biên Phủ năm 1954.

Ngày mồng 6 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đại diện chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Hiệp định sơ bộ Việt- Pháp với nội dung: người Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một nước tự do, có chính phủ, có nghị viện, quân đội, tài chính, nằm trong Liên bang Đông dương và Khối liên hiệp Pháp.

6 tháng sau Hiệp định sơ bộ này thì bản Hiến pháp dân chủ năm 1946 ra đời, tạo mọi điều kiện pháp lý để có thể đưa Hiệp định sơ bộ này trở thành hiện thực.

Nếu người Pháp đừng có quá ngạo mạn khi đó, đừng có quá coi thường nước Việt Nam non trẻ khi đó, và công nhận nước Việt Nam với bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ đó, không cần phải mở một cuộc chiến tranh vô nghĩa kéo dài 9 năm, thì rất có thể tương lai Việt Nam đã khác rồi. Và lịch sử nước Pháp sẽ không phải viết một trang đen đau buồn về sự thất bại trong trận Điện Biên Phủ.

Và cũng như người Pháp, nếu như người Mỹ chịu khó nghiên cứu bản Hiến pháp dân chủ năm 1946, họ sẽ thấy rằng nước Việt Nam tuy là cộng sản, nhưng có một bản Hiến pháp bảo đảm một xã hội dân chủ, tôn trọng quyền con người, không hề nguy hiểm cho lợi ích của Mỹ (một nguy hiểm do người Mỹ tưởng tượng ra). Và như vậy người Mỹ cũng không cần phải mở một cuộc chiến đau thương kéo dài tới 21 năm, để rồi chuốc lấy thất bại năm 1975.

Vào năm 1954, khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, thì người Mỹ chỉ cần khéo léo có sự tác động để Việt Nam thực hiện bản Hiến pháp năm 1946, và yêu cầu tổng thống Ngô Đình Diệm thực hiện nghiêm cuộc tổng tuyển cử của cả nước vào năm 1956 theo tinh thần Hiệp định Geneva về hòa bình ở Việt Nam.

Nếu như vậy thì có thể lịch sử Việt Nam đã sang một trang khác, Việt Nam sẽ có điều kiện để trở thành một nước cộng sản nhưng có nhiều dân chủ tự do hơn bây giờ, và người dân sẽ hạnh phúc, giàu có hơn bây giờ.

Cuộc chiến tranh 9 năm với người Pháp đã đẩy Việt Nam ta một bước đi đến chế độ cộng sản khá cực đoan, với nào là cải cách ruộng đất, nào là cải tạo tư bản tư doanh, nào là xét lại,,,.

Và cuộc chiến tranh 21 năm với người Mỹ và chế độ Việt Nam cộng hòa thân Mỹ đã đẩy Việt Nam ta đi sâu hơn vào sự cực đoan, với lại cải tạo công thương nghiệp, lại cải tạo nông nghiệp, lại đánh tư sản, rồi pháo đài cấp huyện, rồi quyền làm chủ tập thể,,,.

Và cái giá phải trả là cả nước phải dùng chế độ tem phiếu, sổ gạo, đói nghèo, cùng cực, và hậu quả chiến tranh là nhiều triệu người đã chết và bị thương,,,.

Với những người của chế độ Việt Nam cộng hòa, thì họ phải bỏ quê hương để ra đi, trốn tránh cộng sản.

Với người Mỹ, cái giá họ phải trả cũng không rẻ.

Nhưng đó là chuyện đã qua, không thể làm gì được nữa. Nó chỉ là bài học cho tương lai.

Còn bây giờ là chuyện của tương lai, là chuyện có thể làm được.

Trên thế giới, người ta không thay đổi Hiến pháp nhiều như Việt Nam.

Trên cơ sở Hiến pháp gốc đầu tiên, khi  tình hình thực tế có thay đổi, thì người ta sửa đổi một số điều của Hiến pháp, để Hiến pháp phù hợp với tình hình mới. Còn nội dung cơ bản của Hiến pháp gốc vẫn không thay đổi.

Nếu Việt Nam thi hành Hiến pháp năm 1946, và mỗi khi đất nước có sự thay đổi tình hình, thì chỉ sửa đổi một số điều của Hiến pháp cho phù hợp với tình hình mới như các nước vẫn làm, thì sẽ tốt hơn. Nếu thực hiện Hiến pháp 1946 thì Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện được điều đó.

Việt Nam muốn phát triển rõ ràng cần phải thay đổi Hiến pháp.

Năm 2013, đảng đã cho sửa đổi Hiến pháp 1992, nhưng giá trị sửa đổi không nhiều lắm.

Bây giờ là giai đoạn xây dựng một nước Việt Nam “độc lập, tự do, dân chủ, hạnh phúc”.

Và Hiến pháp của giai đoạn mới của nước Việt Nam độc lập, tự do trong thế kỷ 21, không có gì phù hợp hơn là Hiến pháp đầu tiên năm 1946, với một số sửa đổi cho phù hợp với tình hình Đổi Mới ngày nay.///

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

hochiminhbao.com


Recent Posts
Sài Gòn xưa


Hà Nội xưa