hochiminh`s thoughts worth telling about
    Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm
    Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh-Lời Hồ Chí Minh
                 Nếu trăm họ đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai-Lời vua Lý Thái Tông
                    Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc-Lời Trần Hưng Đạo
            Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc, thì phải đàn hặc ngay-Lời vua Lê Lợi
                         Ta phải yêu dân thì dân mới yêu ta, kính ta-Lời Hồ Chí Minh

Giáo sĩ Alexandres De Rhodes nói về người Việt Nam ta thế kỷ 17.

Giới thiệu

Có lẽ nhiều người Việt Nam ta đã biết đến cái tên của Giáo sĩ Alexandes De Rhodes, người Pháp, là người có công lớn nhất trong việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ cho người Việt ta ngày nay. Nhà nước Việt Nam ta ngày nay vẫn chưa đánh giá đúng công lao to lớn đó của Giáo sĩ Alexandes De Rhodes.

Nhưng trong bài viết này, xin chưa nói đến công lao to lớn của Giáo sĩ Alexandes De Rhodes trong việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ đó, mà muốn trích đưa các nhận xét của Giáo sĩ Alexandes De Rhodes, nói về người Việt Nam ta cách đây hơn 300 năm.

Chúng ta sẽ thấy hết sức thú vị, vì Giáo sĩ Alexandes De Rhodes đã có những nhận xét rất hay về văn hóa người Việt ta ngày xưa.

Rồi mỗi chúng ta sẽ tự hỏi sao người Việt ta ngày xưa hay thế, mà bây giờ, những đức tính quí báu đó ngày nay đi đâu cả rồi.

                               ***************

Giáo sĩ Alexandes De Rhodes người Pháp, sinh năm 1591, tại Pháp,  mất năm 1660, tại Iran. Ông đến Việt Nam lần đầu tiên năm 1625 tại miền Nam Việt Nam, xứ Đàng Trong-chúa Nguyễn, để truyền đạo. Ngày mồng 3 tháng 7 năm 1645, ông bị trục xuất vĩnh viễn ra khỏi VN, vì khi đó VN cũng cấm truyền đạo.

Ông đã sống ở Đàng trong (miền Nam) khoảng 5 năm 7 tháng, và sống ở Đàng Ngoài (miền Bắc) khoảng 3 năm 2 tháng.

Năm 1625, sau 6 tháng đến VN, ông đã học tiếng Việt và nói thông thạo tiếng Việt, và bắt đầu truyền đạo bằng tiếng Việt.

Ông cùng các giáo sĩ khác đã sáng tạo ra chữ Quốc ngữ cho nước Việt Nam ta ngày nay. Năm 1661, sau 6 năm sống ở Việt Nam, Giáo sĩ Alexandes De Rhodes xuất bản cuốn Từ điển Việt-Bồ Đào Nha-Latinh đầu tiên, dày gần 500 trang. (Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum).

Trong cuốn Từ điển này, có in cùng cuốn Văn phạm Việt Nam ( Linguae Annamitiacae seu Tunchinensis Brevis Declaratio) . Đây là cuốn sách ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên ở VN, cũng do Giáo sĩ Alexandes De Rhodes soạn thảo.

Về mặt lịch sử của nước Việt Nam ta, ông đã viết cuốn Lịch sử xứ Bắc (Histoire du Royaume du Tonkin) bằng tiếng Ý năm 1650, và cuốn Hành trình và truyền giáo(Divers Voyages et Missions) bằng tiếng Pháp, năm 1651.

Trong cuốn Lịch sử xứ Bắc, ông nhận xét về Đàng Ngoái-xứ Bắc như sau:

“Một xứ đẹp đẽ và phì nhiêu, tô điểm bằng năm mươi con sông, hai phía lại có biển cả”.

Giáo sĩ nói về Hà Nội (khi đó có tên là Kẻ Chợ) như sau:

Thành phố Kẻ Chợ (Ke Cho) này chiều dài hơn 6000 thước, chiều rộng cũng gần như thế, đường phố rất rộng rãi, mười hay mười hai con ngựa có thể đi song song với nhau. Vậy mà mỗi khi ngày Rằm, mồng Một, người ta thấy dân chúng kẻ đi, người lại trên khắp các phố phường, cực kỳ đông đảo, đến nỗi chỗ nào cũng chen chúc nhau. Mỗi người vì bị đông đúc,phải dừng bước luôn luôn, nên phải mất nhiều thì giờ mới đi được một đoạn đường ngắn. Do đó, và nhiều suy luận khác, có thể đoán số dân trong thành phố này lên tới trên 1 triệu người,,,.

Mỗi phố buôn bán một thứ hàng riêng, và các phố ấy lại phân chia nhau thành các phường mà chỉ người trong phường mới được quyền mở hàng trong phường mình, kiểu như các Tổ hợp nghề nghiệp (corporations) ở các thành phố châu Âu”.

Đọc câu trên, nhìn lại ngày nay, ở Hà Nội cũng như Sài Gòn, nhìn cảnh tắc đường, nước ngập lụt khi có mưa, phố xá hỗn loạn, thì ta mới thấy xấu hổ, quản lý Nhà nước của ta ngày nay thua kém thời ông cha ta ngày xưa nhiều lắm.

Giáo sĩ Alexandes De Rhodes rất khen tính trật tự, kỷ cương của triều đình chúa Trịnh ở Đàng Ngoài:

Tôi rất khoái trí khi nhận thấy lòng tôn kính, và phục tùng của toàn dân cõi này đối với ông (Trịnh Tráng). Lúc nào ông cũng có 50.000 quân bảo vệ; cứ mỗi ngày, 12.000 quân túc trực  rất nghiêm chỉnh, toàn vận đồng phục do ông cung cấp lúc làm lễ tuyên thệ nhận nhiệm vụ đầu năm”.

Nhận xét về triều đình nhà Nguyễn ở  ở Đảng Trong, ở xã Kim Long, khi chưa dời về Huế, Giáo sĩ Alexandes De Rhodes nhận xét:

Cung đình rất đẹp, hàng thần rất đông; họ mặc phẩm phục lộng lẫy, nhưng không có nhà cửa lớn, vì họ chỉ xây bằng gỗ, tuy vậy mỗi nhà đều thuận tiện, và khá đẹp mắt, với những cột trạm trổ khéo léo”.

Ông rất khen một quy định rất tiến bộ của triều đình Trịnh-Nguyễn hồi đó, là không cho các quan lại được làm quan ở quê của mình, và cấm không cho quan lấy vợ ở nơi mình làm quan, để bảo đảm sự thanh liêm, không thiên vị của các quan.

Ông nhận xét về tục ăn trầu của người Việt như sau:

“Nhân dân sở tại có tục ăn trầu cau ( blau cau ), nhà khá giả thì tôi, tớ hay người nhà têm trầu, người bình dân thì thường phải mua trầu têm sẵn ở ngoài. Người ta đếm được tới 50 000 người bán trầu cau với giá rẻ, ở các địa điểm trong thành phố, do đó luận được số người dân mua trầu lớn lao vô kể”.

Về món ăn VN, ông nhận xét:

“Đã hẳn đất ở đây không sản xuất lúa mì, trái nho, dầu o-liu, nhưng đừng nên tưởng sống ở đây kham khổ. Họ có những thứ mà ta không có, do đó, bữa ăn của họ chẳng thua kém bữa ăn của người Âu. Họ không dùng quá nhiều thứ nước béo như ta, vì vậy mà họ khỏe mạnh hơn, và tránh được nhiều thứ bệnh mà ta thường mắc”.

“,,,nhiều hột tiêu bán cho người Tàu, nhiều tơ lụa dùng cả vào những việc thường như làm lưới đánh cá, hay đánh dây thuyền; nhiều đường xuất cảng sang Nhật, chỉ có 2 xu một nửa ki-lô, mà phẩm chất vẫn tốt, tuy không lọc trắng được bằng đường của chúng ta,,,. Mía thì rất nhiều và ngon, người ta ăn mía như ta ăn trái táo”.

Đặc biệt, Giáo sĩ Alexandes De Rhodes rất khen các món ăn đặc sản của Việt Nam ta, như các món yến sào, trầm hương, kỳ nam,,,

“Một thứ tổ chim nhỏ, nấu ăn với cháo hoặc thịt, cực ngon.,,,Trầm hương, là một loại hương mộc chỉ xứ Nam mới có, và dùng làm thuốc chữa được bao nhiêu thứ bệnh,,,”.

Giáo sĩ nhận xét về trái mít, mà phương Tây không có, và ông không biết nên gọi tên là gì:

Thứ cây mang những bao lớn, đựng đầy hột giẻ ở bên trong. Mỗi người có khi chỉ mang nổi một trái. Vì thế nên Tạo hóa đã tính toán cho các trái ấy không mọc ra ở cành cây, vì cành không đủ sức chịu đựng, nhưng nó mọc ngay ở thân ra. Cái bao, tức là vỏ, rất giày, có gai nhọn, bổ ra thấy bên trong có đến năm trăm hột, to hơn những hột giẻ bên ta. Da bọc cái hột đó rất trắng, và ăn rất ngon, còn hột thì luộc ăn.”

Về quân sự của người Việt, ông nhận xét chúa Trịnh-miền Bắc, có khoảng 600 chiến thuyền, chúa Nguyễn-miền Nam có khoảng 200 chiến thuyền, tất cả đều rất thiện chiến.

“Và người chèo thuyền không bị khinh rẻ như bên châu Âu. Người lính nào cũng coi trọng việc chèo thuyền. Binh lính người Việt được trang bị súng trường, súng hỏa mai, và họ bắn rất giỏi.

Khi thao diễn, hay ra trận, các thuyền thường đi hàng ba, hoặc hàng năm, đều một mực, không thuyền nào nhô lên quá một thước”.

Giáo sĩ Alexandes De Rhodes đã thuật lại một trận thủy chiến giữa Hải quân nhà Nguyễn với 3 chiến thuyền Hà Lan, mà đánh thuê cho chúa Trịnh. 3 chiến thuyền Hà Lan rất to, hiện đại. Các thuyền của chúa Nguyễn nhỏ, thô sơ hơn, nhưng ào ạt tấn công như vũ bão, lao vào bẻ gãy bánh lái của tàu Hà Lan, và làm nổ kho thuốc súng của tàu Hà Lan. Kết quả, 2 tàu Hà Lan bị bắn chìm, 1 tàu chạy thoát.

Thời đó, cách đây hơn 300 năm, Giáo sĩ Alexandes De Rhodes  cho biết quân đội nhà Trịnh-Nguyễn đã tuyển mộ cả các lính người nước ngoài, như lính Pháp, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha,,,đánh thuê cho quân đội hai nhà Trịnh, Nguyễn. Có thể nói, khi đó quân đội Việt Nam ta có tính quốc tế rộng, và ngoại ngữ cũng khá, tiền lương cũng khá. Thời Trịnh-Nguyễn, quân đội nước ngoài cùng tham gia đội ngũ với binh lính Việt, thì tiền lương phải ngang nhau.

Giáo sĩ Alexandes De Rhodes rất khen tài bắn giỏi, dùng súng trường, súng hỏa mai, của quân đội Trịnh-Nguyễn. Ông đã kể lại một câu chuyện  ở Đàng Ngoài, về việc bắn thi giữa một binh sĩ người Việt, với một binh sĩ người Bồ Đào Nha (mà được tuyển mộ vào trong quân đội nhà Trịnh) như sau:

Một hôm, người lính Bắc thách đố bắn thi với một người lính Bồ Đào Nha cùng đơn vị, vì người lính Bồ Đào Nha này nổi tiếng bắn giỏi. Người lính Việt bắn trước, bắn thủng  tâm của cái khiên để cách xa 100 mét. Người lính Bồ hoảng quá, cảm thấy có lẽ thua, nên nghĩ ra mẹo, bắn không có đạn. Sau khi bắn xong, người ta tìm không thấy vết đạn của anh lính Bồ đâu cả. Anh lính Bồ hóm hỉnh trả lời là “thì tôi bắn xuyên qua lỗ đạn của anh đấy thôi”. Mọi người biết ngay là anh lính Bồ Đào Nha sợ thua, chống chế, nên đều cười vui vẻ, không có trách móc gì anh lính Bồ Đào Nha gì cả.

Giáo sĩ Alexandes De Rhodes thuật lại câu chuyện này, vừa để khen tài bắn giỏi của anh lính Việt, vừa khen tính tình hiền hòa của binh lính người Việt.

Về quan hệ giữa người với người trong quân đội VN, ông nhận xét:

Không bao giờ thấy có ai cãi cọ nhau, hay nói lời tức giận, khinh bỉ; không ai nghe họ đấu gươm, đổ máu bao giờ, thật khác hẳn với binh lính ở Tây Phương”.

“Dầu họ đánh giặc rất giỏi, coi thường mạng kẻ địch, nhưng đối với nhau, họ lại thương yêu nhau như anh em ruột, và không bao giờ tôi nghe thấy một người lính dùng khí giới đánh người đồng đội”.

Không biết quân đội VN ta ngày nay, có thương yêu nhau được như ngày xưa không.

Tất nhiên sự đoàn kết, và dũng cảm là một thế mạnh của quân đội Việt Nam ta từ xưa đến nay. Nhưng ngày nay, khoa học, công nghệ có vai trò cực kỳ quan trọng trong chiến tranh.

Chúng ta không thể đánh nhau với kẻ địch bằng tay không. Phải có vũ khí hiện đại mới bảo vệ được đất nước hiện nay.

So sánh người Việt với người Trung Hoa, Giáo sĩ Alexandre De Rhodes nhận xét rằng người Việt không kiêu ngạo như người Trung Hoa, và dễ giao thiệp hơn người Trung Hoa.

Về nền giáo dục của người VN, ông nhận xét:

Không một người dân nào, sang hay hèn, mà không cho con học chữ Hán ngay từ khi còn nhỏ, nhờ vậy, trong nước không ai là không có ít nhiều kiến thức, không ai bị dốt nát hoàn toàn”.

Sau Giáo sĩ Alexandre De Rhodes hơn 50 năm, một giáo sĩ khác tên là  J.P. De Marini cũng nhận xét “bảy trường học và đại học đường công cộng, chia ra mỗi tỉnh một trường, ai có khiếu đều có thể vào học, số học sinh có khi lên đến 30.000 người”.

Về luật pháp của VN, ông Alexandre De Rhodes nhận xét:

“Công lý ở xứ này, theo ý tôi, cũng được trông coi hoàn hảo như bất cứ nước nào khác trên thế giới. Chính nhà Vua ban lương bổng cho các quan, và cấm họ không được lấy lợi lộc gì trong bất kỳ một vụ án nào, nhờ vậy, người dân không phải tốn kém gì khi phải bênh vực quyền lợi cho mình.

Vì thế nên không hề có các thứ giấy tờ, thể thức gây bao tốn kém và phiền phức như ở Tây phương. Nếu người dân ở đây biết cách thức làm việc ở các Tòa án, và các thể thức phiền phức ở nước ta, thì không biết họ sẽ nói về ta như thế nào.”

Ông rất cảm phục một luật lệ bất thành văn ở VN, mà ông cho là tốt đẹp nhất, là : nếu người trong họ có điều gì xích mích cần giải quyết, thì trưởng họ sẽ xử lý, chứ không phải quan-tức tòa án.

“Nếu điều ấy có ở xứ ta, thì đã bớt được ¾  (ba phần tư) các vụ kiện.”

Chúng ta thấy văn hóa “trọng tình hơn lý” ở nước Việt Nam ta, và thấy hệ thống luật pháp “tam quyền phân lập” mà được sáng tạo ra ở phương Tây có nhiều cái hay, nhưng cũng có nhiều cái dở. Cái hay của hệ thống Tam quyền phân lập (Tòa án, Viện kiểm sát, Công an độc lập với nhau) là bảo đảm tính khách quan, công bằng, không thiên vị.

Nhưng cái dở của hệ thống này, là chỉ coi trọng cái Lí, mà không coi trọng đến cái Tình. Điều này đi ngược với văn hóa coi trọng tình cảm ở Việt Nam ta, như Giáo sĩ Alexandes De Rhodes đã nhận xét cách đây hơn 300 năm.

Người Việt Nam ta vẫn hay thường nói: “Trăm cái lí không bằng tí cái tình”.

Có lẽ chính vì hiểu cái văn hóa “coi trọng tình người” ở Việt Nam ta, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho xóa bỏ Bộ Tư pháp vào năm 1960. Bộ này chỉ được khôi phục lại sau năm 1975.

Về kinh tế, Giáo sĩ Alexandes De Rhodes rất khen kinh tế cả ở Đàng Trong, lẫn Đàng Ngoài của Việt Nam ta thời cách đây hơn 300 năm. Theo ông, bờ biển Việt Nam cả nước khi đó là khoảng hơn 1200 km, và có đến 50 hải cảng lớn mà mỗi hải cảng có thể tiếp đón 10 hay 12 tàu lớn. Nhờ đó, thương thuyền các nước có thể cập bến mỗi đêm, không phải bỏ neo giữa biển, tránh được nguy hiểm gió bão, và cướp biển. Người ngoại quốc đến buôn bán rất nhiều, nhất là người Trung Quốc và người Nhật.

Giáo sĩ Alexandre De Rhodes cùng nhiều giáo sĩ phương Tây khác khi đó đều khen nền kinh tế, xã hội của Đàng Trong của nhà Nguyễn, giống như ý kiến trong Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, là “người buôn bán thì lạc nghiệp, chợ búa không bán hai giá, trong xứ không có trộm cướp. Nhiều người các nước đều đến quây quần làm ăn. Trong trấn ngày càng đông đúc thịnh vượng.”

Giờ đây, cái cảnh thanh bình, lạc nghiệp đẹp đẽ đó, “trong xứ không có trộm cướp” đến bao giờ mới quay trở lại?

Ngày mồng 3 tháng 7 năm 1645, Giáo sĩ Alexandre De Rhodes bị Chúa Nguyễn trục xuất vĩnh viễn ra khỏi Việt Nam, vì chủ trương cấm truyền đạo hồi đó. Khi rời Việt Nam, Giáo sĩ Alexandes De Rhodes đã viết như sau về tình cảm của ông với VN:

“Tôi từ giã xứ Nam bằng thể xác, nhưng chẳng phải bằng lòng trí, cả đối với xứ Bắc cũng vậy. Thật sự, tâm hồn tôi để trọn ở hai nơi ấy, và tôi tưởng không bao giờ lòng trí của tôi có thể rời khỏi đó.”

Năm 1660, khi 70 tuổi, ông mất tại Iran, khi ông truyền đạo ở đó.///

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

About hochiminhbao


Trang Web của những người mong muốn thực hiện Tư tưởng Hồ Chí Minh.

"Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì"-Lời Hồ Chí Minh.

Contact

Email to hochiminhbao.com:

hcmbao@gmail.com

Follow hcmbao

 Subscribe to this blog
Follow me on Twitter
 Connect on Facebook
 Gallery on Flickr

Copyright


© 2019 by hochiminhbao.com.

You're welcome to link to hochiminhbao.com, or to republish any posts and images of this website.

We are very appreciated if you quote source from hochiminhbao.com.

Thank you.